Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ

TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HS-ST

Ngày: 18-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình

Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thùy Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Trần Tấn Minh N, sinh ngày 17/02/1975 tại Đà Nẵng (quê quán Quảng Nam).

Nơi ĐKHKTT: Tổ 20, phường H, quận C, TP Đà Nẵng

Chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 6/12;

Nghề nghiệp: Bảo vệ chợ;

Con ông Trần T (sinh năm: 1947); con bà: Nguyễn Thị Q (sinh năm: 1949).

Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2025.- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1969 (có mặt)

Địa chỉ: 2 đường T, Tổ C, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm: 1973 (có mặt)

Địa chỉ: A N, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.

2/Bà Thái Thị H, sinh năm: 1967 (có mặt)

Địa chỉ: F V, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng.

- Người làm chứng:

1/ Ông Đỗ Thành C, sinh năm: 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ B, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.

2/ Bà Nguyễn Thị Xuân V, sinh năm: 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ D, phường H, quận C, TP Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/11/2024, bà Nguyễn Thị Thanh T1 (sinh năm 1969; trú tổ C, phường H, quận C) điều khiển xe mô tô đi đến chợ H1, thuộc phường H, quận C để làm việc. Bà T1 để xe mô tô tại bãi giữ xe trước lối đi vào Đội quản lý chợ H1, lúc này Trần Tấn Minh N (là bảo vệ chợ) đi đến ngăn cản, yêu cầu bà T1 dắt lùi xe lại và đỗ ở vị trí khác, trong lúc bà T1 dắt xe thì có xảy ra cãi vả với N. Sau khi lùi xe, bà T1 đi vào chợ, lúc đi ngang qua vị trí N đang đứng thì bất ngờ N lao đến vị trí bà T1, dùng tay trái nắm tóc, rồi dùng tay phải đánh liên tục nhiều cái vào vùng mặt, vùng đầu, vùng ngực làm bà T1 ngã xuống nền, sau đó N tiếp tục dùng tay túm tóc bà T1 dúi đầu xuống nền thì được mọi người can ngăn.

Sau khi được mọi người can ngăn, bà T1 đi vào khu vực làm việc của ban quản lý chợ gọi điện thoại cho ban quản lý phản ánh về hành vi của N. Sau khi gọi điện thì bà T1 có lời lẽ chửi N, nghe vậy N tiếp tục lao đến vị trí bà T1 đang đứng, dùng tay đánh vào vùng đầu và mặt bà T1 thì được anh Đỗ Thành C (Sinh năm: 1970; trú tổ B, phường H, quận C) can ngăn. [BL: 15-26; 31-61; 66-82; 101-117; 150-164)

*Tang vật tạm giữ và xử lý: 01 đĩa CD chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ án là nguồn chứng cứ nên lưu hồ sơ vụ án để phục vụ xét xử.

*Theo Bản kết luận giám định số: 2539/KL- KTHS ngày 27/12/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể của bà Nguyễn Thị Thanh T1 tại thời điểm giám định là 28% (hai mươi tám phần trăm). Cụ thể:

  • Vết biến đổi sắc tố da sống mũi bên trái: 05%
  • Tổn thương tháp mũi: 08%
  • Lún thân đốt sống thắt lưng L3: 21%.

Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương lún thân đốt sống thắt lưng L3 của bà Nguyễn Thị Thanh T1 là tổn thương gián tiếp do trọng lực của cơ thể dồn nén đột ngột lên vùng cột sống thắt lưng. Các tổn thương khác do vật tày gây nên.

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Tấn Minh N đã khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKSCL ngày 29/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Tấn Minh N về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 (thuộc Điểm i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Trần Tấn Minh N như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điểm đ Khoản 2 (thuộc Điểm i Khoản 1) Điều 134; Điểm b, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tấn Minh N mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Buộc bị cáo Trần Tấn Minh N phải bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền tổng cộng là 21.691.000đ; không chấp nhận số tiền bồi thường bà T1 yêu cầu là 149.000.000₫ (170.691.000₫ – 21.691.000đ = 149.000.000₫)

Cụ thể số tiền 21.691.000đ bị cáo N phải bồi thường như sau:

  • Tiền viện phí điều trị tại bệnh viện T3: 3.945.000₫
  • Tiền chi phí phẫu thuật mũi tại bệnh viện: 6.000.000₫
  • Tiền thuê người tập phục hồi chức năng sau xuất viện (10 ngày): 1.500.000₫
  • Tiền thuê người nuôi bệnh tại bệnh viện (10 ngày): 2.000.000đ.
  • Tiền mua yến (chi phí phục hồi sức khỏe): 4.000.000₫
  • Tiền mua thuốc điều trị sau khi ra viện và các chi phí khám chữa bệnh tại bệnh viện Y: 4.246.000₫

Riêng đối với khoản tiền mua thuốc tây ngoài 2 đợt tổng cộng là 2.000.000₫ (BL 212) do bà T1 kê khai yêu cầu không có cơ sở để chấp nhận vì bà T1 không cung cấp được chứng từ, tài liệu chứng minh. Mặt khác tại các mục kê tiền thuốc thể hiện tại BL số 212, HĐXX cũng đã xem xét chấp nhận các khoản chi phí mua thuốc và chi phí điều trị cho bà T1 sau xuất viện.

Đối với tiền mất thu nhập làm thêm ở nhà: 30.000.000đ bà T1 yêu cầu thì tại phiên tòa bà T1 xác nhận bà T1 vẫn được nhận lương trong thời gian nằm điều trị tại bệnh viện và những thời gian sau xuất viện; đồng thời Ban quản lý chợ H1 cũng cung cấp chứng cứ thể hiện bà T1 có nhận đủ lương. Mặt khác bà T1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà có thu nhập làm thêm như bà đã trình bày nên đề nghị không chấp nhận.

Đối với chi phí thay màn hình điện thoại 2.000.000đ bà T1 yêu cầu nhưng bà T1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh do vậy đề nghị không chấp nhận.

Đối với các khoản yêu cầu bồi thường khác của bà T1 gồm: Tiền phẫu thuật thẩm mỹ vùng mũi: 30.000.000đ; Tiền chỉnh sửa thẩm mỹ lại vùng bầm tím dưới mi mắt bên trái và cằm: 40.000.000đ; Tiền thuốc điều trị lưng của bà T1 trong thời gian đến: 40.000.000đ. Tại phiên tòa bà T1 xác định là các chi phí này trên thực tế chưa phát sinh mà bà T1 chỉ dự trù sẽ phát sinh sau này nên đề nghị HĐXX tách ra nếu sau này có phát sinh thì bà T1 có quyền khởi kiện đối với bị cáo N trong một vụ án dân sự khác.

Đối với tiền bồi dưỡng sức khỏe và tiền tổn hại tinh thần tại phiên tòa HĐXX đã giải thích cho bà T1 về quyền được yêu cầu bị cáo N bồi thường các chi phí này theo quy định tuy nhiên bà T1 xác định không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường cho bà tiền bồi dưỡng sức khỏe và tiền tổn hại tinh thần nên đề nghị không xem xét.

Do bị cáo N đã bồi thường cho bà T1 số tiền 10.000.000đ; nên cần buộc bị cáo N phải tiếp tục bồi thường cho bà T1 số tiền 11.692.000đ.

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Thanh T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bị cáo còn phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành xong.

Về vật chứng:

Đối với 01 đĩa CD chứa đoạn dữ liệu hình ảnh camera chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ án là nguồn chứng cứ nên đề nghị lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà T1 đề nghị xem xét về hành vi của ông Nguyễn Hữu D –Ban H1 và bà Thái Thị H là tiểu thương buôn bán tại chợ H1 do có xích mích với bà T1 trước đây nên đã có hành vi xúi giục, kích động bị cáo N để bị cáo N thực hiện hành vi đánh bà T1 vào ngày 04/11/2024. Tuy nhiên căn cứ vào lời trình bày của bị cáo N; của ông D và bà H trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thì bị cáo N, ông D, bà H khẳng định không có việc ông D, bà H đã xúi giục bị cáo N thực hiện hành vi đánh bà T1 vào ngày 04/11/2024 mà việc bị cáo N đánh bà T1 là do những mâu thuẫn giữa bị cáo N với bà T1; tại phiên tòa bà T1 cũng xác định bà cũng chỉ nghi ngờ ông D bà H nhưng bà không có chứng gì về việc này; do vậy không có cơ sở xem xét các khai nại này của bà T1.

Đối với những nội dung khiếu nại, tố cáo khác của bà T1 liên quan đến ông D, bà H không liên quan đến vụ án này thì bà T1 có quyền làm đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền khác xem xét giải quyết theo quy định.

Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa người làm chứng bà Nguyễn Thị Xuân V; ông Đỗ Thành C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của bà V, ông C. Do đó, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[1.2] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa bị cáo Trần Tấn Minh N khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/11/2024, tại khu vực chợ H1, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, xuất phát từ tranh cãi nhỏ nhặt trong việc để xe mô tô, Trần Tấn Minh N đã có hành vi dùng tay đánh liên tục vào vùng đầu, mặt và làm bà T1 bị ngã xuống nền nên gây thương tích cho bà Nguyễn Thị Thanh T1 với tỷ lệ thương tích 28%.

Do đó, hành vi của bị cáo Trần Tấn Minh N là có tính chất côn đồ để gây thương tích cho bị hại nên đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điểm đ khoản 2 (thuộc Điểm i khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự như nội dung Cáo trạng số 58/CT-VKSCL ngày 29/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của Trần Tấn Minh N thì thấy:

Bị cáo N là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, có nhận thức pháp luật và xã hội nhất định nhưng vì một số mâu thuẫn nhỏ bị cáo đã dùng tay trái nắm tóc, rồi dùng tay phải đánh liên tục nhiều cái vào vùng mặt, vùng đầu, vùng ngực làm bà T1 ngã xuống nền, sau đó N tiếp tục dùng tay túm tóc bà T1 dúi đầu xuống nền thì được mọi người can ngăn. Sau khi được mọi người can ngăn, bà T1 đi vào khu vực làm việc của ban quản lý chợ gọi điện thoại cho ban quản lý phản ánh về hành vi của N. Sau khi gọi điện thì giữa hai bên tiếp tục có lời lẽ qua lại nên N tiếp tục lao đến vị trí bà T1 đang đứng, dùng tay đánh vào vùng đầu và mặt bà T1. Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo như nêu trên là có tính chất côn đồ không chỉ xâm phạm đến sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, HĐXX xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, xử cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

[2.3] Xét hành vi phạm tội; vai trò; nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:

Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Tấn Minh N phạm tội thuộc trường hợp “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; có cha mẹ già; bị cáo lại là lao động chính trong gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 điểm Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo N một phần hình phạt.

[3] Xét về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị Thanh T1 yêu cầu bị cáo Trần Tấn Minh N phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe và các chi phí liên quan khác với tổng số tiền 170.691.000đ. Cụ thể:

  1. Tiền viện phí điều trị tại bệnh viện T3 (BL219) : 5.000.000₫
  2. Tiền viện phí điều trị tại bệnh viện T3 (BL 203): 3.945.000₫
  3. Tiền chi phí phẫu thuật mũi tại bệnh viện: 6.000.000₫
  4. Tiền bồi dưỡng sức khỏe ( mua yến sào): 4.000.000₫
  5. Tiền thuê người tập phục hồi chức năng sau xuất viện (10 ngày): 1.500.000₫
  6. Tiền thuê người nuôi bệnh tại bệnh viện (10 ngày): 2.000.000₫
  7. Tiền thay màn hình điện thoại bị vỡ: 2.000.000₫
  8. Tiền phẫu thuật thẩm mỹ vùng mũi: 30.000.000₫
  9. Tiền chỉnh sửa thẩm mỹ lại vùng bầm tím dưới mi mắt bên trái và cằm: 40.000.000₫
  10. Tiền thuốc điều trị lưng của bà T1 trong thời gian đến: 40.000.000₫
  11. Tiền mất thu nhập làm thêm ở nhà: 30.000.000₫
  12. Tiền mua thuốc điều trị sau khi ra viện và các chi phí khám chữa bệnh tại bệnh viện Y cổ truyền: 6.246.000đ ( tiền thuốc nam: 375.000đ; tiền khám bệnh viện C2; T2 thu viện phí 221.000đ; tiền hóa đơn chụp xi ti 550.000đ; hóa đơn thuốc 196.000đ; phiếu tái khám 2 lần 108.000đ; hóa đơn bệnh viện Y; hóa đơn y học cổ truyền 321.000đ; hóa đơn bán thuốc 50.000đ; hóa đơn N1; hóa đơn thuốc 181.000đ; hóa đơn N2; Hóa đơn N3; Hóa đơn nhà thuốc P 180.000đ; Thu viện phí 210.000đ; Hóa đơn viện phí 126.000đ; và tiền mua thuốc ngoài 02 đợt tổng cộng là 2.000.000₫).

Bị Cáo N đã bồi thường tổng cộng số tiền 10.000.000 đồng nên bà T1 yêu cầu bị cáo N phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là 160. 691.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo N không đồng ý bồi thường số tiền còn lại tổng cộng là 160.691.000 đồng như yêu cầu của bà T1, mà chỉ đồng ý bồi thường những khoản theo quy định pháp luật bị cáo phải chịu và mức bồi thường phù hợp với quy định pháp luật.

HĐXX xét thấy: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các chứng cứ mà người bị hại bà Nguyễn Thị Thanh T1 đã cung cấp có trong hồ sơ vụ án; lời trình bày của bị cáo N và bà T1 tại phiên tòa thì thấy:

Đối với tiền bồi dưỡng sức khỏe và tiền tổn hại tinh thần tại phiên tòa HĐXX đã giải thích cho bà T1 về quyền được yêu cầu bị cáo N bồi thường các chi phí này theo quy định tuy nhiên bà T1 xác định không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường cho bà tiền bồi dưỡng sức khỏe và tiền tổn hại tinh thần nên HĐXX không xem xét.

Đối với khoản tiền viện phí điều trị tại bệnh viện: 3.945.000đ theo Hóa đơn ngày 08/11/2024 bà Thủy cung C1 (BL 203) và chi phí phẫu thuật mũi tại bệnh viện theo yêu cầu của bà T1 là 6.000.000₫ ( BL 212) là phù hợp quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 và cũng được bị cáo N chấp nhận bồi thường nên có cơ sở để chấp nhận; buộc bị cáo N phải bồi thường cho bà T1 số tiền 9.945.000đ.

Đối với số tiền viện phí điều trị tại bệnh viện T3 (BL219) : 5.000.000đ theo Phiếu thu viện phí ngày 08/11/2024 bà T1 yêu cầu đã được xem xét trong tiền viện phí 3.945.000đ theo Hóa đơn ngày 08/11/2024 bà Thủy cung C1 (BL 203) nên không có cơ sở chấp nhận.

Đối với tiền thuê người tập phục hồi chức năng sau xuất viện (10 ngày): 1.500.000đ và T2 thuê người nuôi bệnh tại bệnh viện (10 ngày): 2.000.000đ mặc dù bà T1 không cung cấp được chứng cứ nhưng căn cứ quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 thì mức yêu cầu tiền thuê người chăm sóc bà T1 được tính trên mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương Đà Nẵng (hiện nay mức thu nhập trung bình của lao động là người chăm sóc bà T1 tại Đà Nẵng dao động từ 300.000đ đến 500.000đ cho 01 ngày) do vậy yêu cầu thuê người chăm sóc và tập phục hồi chức năng tổng cộng số tiền 3.500.000đ này của bà T1 là phù hợp nên chấp nhận.

Đối với tiền mua yến 4.000.000đ để bồi dưỡng sức khỏe mặc dù bà T1 không cung cấp được chứng cứ tuy nhiên với thương tích bị cáo N gây ra cho bà T1 thì được coi là chi phí phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự thì yêu cầu này là phù hợp nên chấp nhận; HĐXX chấp nhận buộc bị cáo N phải bồi thường cho bà T1 số tiền 4.000.000₫.

Đối với tiền mua thuốc điều trị sau khi ra viện và các chi phí khám chữa bệnh tại bệnh viện Y cổ truyền: 4.246.000đ ( cụ thể: tiền thuốc nam: 375.000đ; tiền khám bệnh viện C2; T2 thu viện phí 221.000đ; tiền hóa đơn chụp xi ti 550.000đ; hóa đơn thuốc 196.000đ; phiếu tái khám 2 lần 108.000đ; hóa đơn bệnh viện Y; hóa đơn y học cổ truyền 321.000đ; hóa đơn bán thuốc 50.000đ; hóa đơn N1; hóa đơn thuốc 181.000đ; hóa đơn N2; Hóa đơn N3; Hóa đơn nhà thuốc P 180.000đ; Thu viện phí 210.000đ; Hóa đơn viện phí 126.000đ). Căn cứ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 1 Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 HĐXX chấp nhận buộc bị cáo N phải bồi thường bà T1 số tiền mua thuốc điều trị; khám chữa bệnh sau khi ra viện số tiền 4.246.000đ là phù hợp. Đối với khoản tiền mua thuốc tây ngoài 2 đợt với số tiền 2.000.000₫ (BL 212) do bà T1 kê khai, bà T1 chỉ cung cấp các đơn thuốc nhưng không thể hiện biên lai thu tiền mua thuốc với số tiền cụ thể là bao nhiêu do vậy không có cơ sở chấp nhận. Mặc khác tại các mục kê tiền thuốc thể hiện tại BL số 212, HĐXX cũng đã xem xét chấp nhận các khoản chi phí mua thuốc và chi phí điều trị sau khi xuất viện cho bà T1.

Đối với tiền mất thu nhập làm thêm ở nhà: 30.000.000đ bà T1 yêu cầu thì tại phiên tòa bà T1 xác nhận bà T1 vẫn được nhận lương trong thời gian nằm điều trị tại bệnh viện và những thời gian sau xuất viện; đồng thời Ban quản lý chợ H1 cũng cung cấp chứng cứ thể hiện bà T1 có nhận đủ lương. Mặt khác bà T1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà có thu nhập làm thêm như bà đã trình bày nên không có cơ sở xem xét được.

Đối với chi phí thay màn hình điện thoại 2.000.000đ bà T1 yêu cầu nhưng bà T1 không cung cấp được chứng cứ chứng minh do vậy HĐXX không có cơ sở xem xét.

Đối với các khoản yêu cầu bồi thường khác của bà T1 gồm: Tiền phẫu thuật thẩm mỹ vùng mũi: 30.000.000đ; Tiền chỉnh sửa thẩm mỹ lại vùng bầm tím dưới mi mắt bên trái và cằm: 40.000.000đ; Tiền thuốc điều trị lưng của bà T1 trong thời gian đến: 40.000.000đ. Tại phiên tòa bà T1 không cung cấp được chứng cứ; đồng thời bà T1 cũng xác nhận đây là chi phí bà dự trù sẽ phát sinh sau này. HĐXX thấy, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và kết luận giám định về sức khỏe của bà T1 có gây tổn thương phần mũi và đối với phần chi phí phẫu thuật mũi này cũng đã được HĐXX xem xét cho bà T1 số tiền 6.000.000₫ như bảng kê tại Bút lục số 212 của bà T1 yêu cầu. Do vậy, HĐXX không có cơ sở chấp nhận các yêu cầu bồi thường các khoản tiền nêu trên của bà T1 được. Đối với những khoản chi phí này nếu sau này có phát sinh và bà Thủy cung C1 được tài liệu chứng cứ chứng minh thì bà T1 có quyền khởi kiện đối với bị cáo N trong một vụ án dân sự khác.

Từ những nhận định trên, HĐXX chỉ chấp nhận buộc bị cáo N bồi thường cho bà T1 số tiền tổng cộng là 21.691.000đ; không chấp nhận số tiền yêu cầu của bà T1 là 149.000.000₫

Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị cáo N và bà T1 đều xác nhận hiện nay bị cáo N đã bồi thường cho bà T1 số tiền 10.000.000đ; nên cần buộc bị cáo N phải tiếp tục bồi thường cho bà T1 số tiền 11.691.000₫

[4] Xét về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với với 01 đĩa CD chứa đoạn dữ liệu hình ảnh camera chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ án là nguồn chứng cứ nên đề nghị lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.

[5] Về trách nhiệm của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà T1 đề nghị xem xét về hành vi của ông Nguyễn Hữu D –Ban H1 và bà Thái Thị H là tiểu thương buôn bán tại chợ H1 do có xích mích với bà T1 trước đây nên đã có hành vi xúi giục, kích động bị cáo N để bị cáo N thực hiện hành vi đánh bà T1 vào ngày 04/11/2024. Tuy nhiên căn cứ vào lời trình bày của bị cáo N; của ông D và bà H trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thì bị cáo N, ông D, bà H khẳng định không có việc ông D, bà H đã xúi giục bị cáo N thực hiện hành vi đánh bà T1 vào ngày 04/11/2024 mà việc bị cáo N đánh bà T1 là do những mâu thuẫn giữa bị cáo N với bà T1; tại phiên tòa bà T1 cũng xác định bà cũng chỉ nghi ngờ ông D bà H nhưng bà không có chứng gì về việc này; do vậy HĐXX không có cơ sở xem xét các khai nại này của bà T1 được.

Đối với những nội dung khiếu nại, tố cáo khác của bà T1 liên quan đến ông D, bà H không liên quan đến vụ án này thì bà T1 có quyền làm đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền khác xem xét giải quyết theo quy định.

[6]Hội đồng xét xử xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo; về trách nhiệm dân sự; về trách nhiệm của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; về xử lý vật chứng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Trần Tấn Minh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Tấn Minh N phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

-Căn cứ: Điểm đ Khoản 2 (thuộc Điểm i Khoản 1) Điều 134; Điểm b, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị cáo Trần Tấn Minh N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 14/5/2025.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tuyên tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD chứa đoạn dữ liệu hình ảnh camera chứa đoạn video ghi lại diễn biến vụ án là nguồn chứng cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự, các điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Buộc bị cáo Trần Tấn Minh N phải bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Thanh T1 số tiền tổng cộng là 21. 691.000₫ (Hai mươi mốt triệu, sáu trăm chín mươi mốt ngàn đồng); không chấp nhận số tiền bồi thường bà T1 yêu cầu là 149.000.000đ (Một trăm bốn mươi chín triệu đồng).

Cụ thể số tiền 21.691.000đ bị cáo N phải bồi thường như sau:

  • Tiền viện phí điều trị tại bệnh viện T3: 3.945.000₫
  • Tiền chi phí phẫu thuật mũi tại bệnh viện: 6.000.000₫
  • Tiền thuê người tập phục hồi chức năng sau xuất viện (10 ngày): 1.500.000₫
  • Tiền thuê người nuôi bệnh tại bệnh viện (10 ngày): 2.000.000đ.
  • Tiền mua yến (chi phí phục hồi sức khỏe): 4.000.000₫
  • Tiền mua thuốc điều trị sau khi ra viện và các chi phí khám chữa bệnh tại bệnh viện Y: 4.246.000đ.

Do bị cáo N đã bồi thường cho bà T1 số tiền 10.000.000đ; nên cần buộc bị cáo N phải tiếp tục bồi thường cho bà T1 số tiền 11.691.000đ (Mười một triệu, sáu trăm chín mươi mốt ngàn đồng).

Kể từ ngày bà T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Trần Tấn Minh N không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bị cáo còn phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành xong.

Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Tấn Minh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Tấn Minh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 584.600đ (Năm trăm tám mươi bốn ngàn, sáu trăm đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/6/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Công an thành phố Đà Nẵng;
  • - Chi cục THA quận Cẩm Lệ;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Cẩm Lệ;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 58/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích đối với Bị cáo Trần Tấn Minh N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger