TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2025/HS-ST Ngày: 16/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng
Ông Vũ Ngọc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa theo sự phân công của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an thành phố Đ, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Xuân H1 (Bờm), sinh ngày 07 tháng 10 năm 1988 tại thành phố Đà Nẵng;
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ C, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: K Mẹ S, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân G và bà Trần Thị Thanh H2; có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án: Không.
Tiền sự:
- Ngày 10/01/2022, bị Công an phường T, quận T, TP . ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình với số tiền 1.250.000 đồng theo Quyết định số: 05/QĐ-XPHC;
- Ngày 08/12/2023, bị Công an phường H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số: 88/QĐ-XPHC.
Nhân thân:
- Ngày 30/01/2008, bị Công an Phường T, quận T, TP . xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng" bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định số: 13/QD-XPHC;
- Ngày 06/01/2009, bị TAND quận Thanh Khê, TP . xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời han thử thách 24 tháng về tội: “Trộm cắp tài sản" theo bản án số: 07/2009/HSST;
- Ngày 13/8/2015, bị TAND quận Thanh Khê ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số: 136/2015/QĐ-TA.
- Ngày 09/9/2024, bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định số 363/QĐ-XPCH-ĐCSMT.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 06/7/2024, tạm giam ngày 15/7/2024. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/07/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét chỗ ở đối với Hoàng Minh K (SN: 16/11/1992, trú: K H, phường H, quận L, TP .) tại khu vực nhà tạm (dùng để nuôi gà), địa chỉ: K Mẹ S, phường H, quận L, TP .. Tại thời điểm khám xét, có mặt Lê Xuân H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T mời chứng kiến quá trình khám xét. Quá trình làm việc, Lê Xuân H1 khai nhận cất giấu 01 gói ma tuý ở nhà của H1 tại K Mẹ S, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 06/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở L.
* Tang vật thu giữ:
- Phát hiện, thu giữ tại bàn nhựa ở góc phòng ngủ: 01 gói ni lông không rõ hình dạng, bên trong chứa tinh thể màu trắng, (ký hiệu H).
- 01 ĐTDD Samsung màu đen, bị vỡ màn hình, không khởi động được.
- 01 ĐTDĐ N (loại nút bấm) màu xanh gắn sim số: 0796651459.
Qua điều tra xác định: Khoảng 08 giờ ngày 06/07/2024, Lê Xuân H1 liên lạc với một nam thanh niên tên L (không rõ nhân thân, lai lịch, không nhớ số điện thoại) hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy đá. Lượm đồng ý bán và hẹn giao dịch tại khu vực đường N, TP .. H1 bắt xe ôm đi đến gần khu vực điểm hẹn gặp L, H1 đưa cho L số tiền 3.000.000 đồng rồi lấy 01 gói ma túy đá mang về nhà mình tại địa chỉ: K Mẹ S, TP . cất giấu nhằm mục đích sử dụng.
Ngoài ra, Lê Xuân H1 khai nhận vào ngày 19/4/2024 Lê Xuân H1 liên lạc với Hoàng Minh K hỏi mua 01 gói ma túy đá. Hai bên thỏa thuận giá 500.000 đồng và hẹn giao ma túy tại nhà của H1 (địa chỉ: K Mẹ S, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng). H1 sử dụng tài khoản ngân hàng V số: 0009796651459 mang tên Lê Xuân H1 chuyển số tiền 500.000 đồng đến tài khoản ngân hàng V1 số: 0774999929 của Hoàng Minh K. K liên hệ với Lê Phước Anh T (SN: 18/01/2000; trú: tổ E, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng) nói T đến nhà K lấy ma túy giao cho H1. T sử dụng xe mô tô mượn của bạn (không nhớ rõ mượn của ai không nhớ biển kiểm soát) đến nhà K. K vứt một khẩu trang bên trong có chứa ma túy đá từ tầng 2 xuống dưới cho T, T mang ma túy đến nhà của H1, T vứt khẩu trang bên trong có chứa ma túy đá vào sân nhà H1. Số ma túy này H1 đã sử dụng một mình hết.
* Tại Bản Kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K2 Công an T kết luận: Tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu H: 9,262 gam.
Quá trình điều tra Lê Xuân H1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số: 53/CT-VKS-P1 ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Xuân H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Xuân H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân H1 từ 05 năm đến 06 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ đối với toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định; tịch thu sung công đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia có gắn sim số 0796651459 của bị cáo; tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung của bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đối với xe mô tô số khung: RLCE55P19CY177838, số máy: 55P1177848 và BKS: 92L1-316.54 thu giữ khi khám xét đối với Hoàng Minh K. Quá trình điều tra, Lê Xuân H1 khai: vào tháng 5/2024, có 04 thanh niên ăn uống tại quán nhậu của H1 không có tiền trả nên để lại xe máy nhưng không quay lại lấy, H1 sử dụng từ đó đến nay. Qua xác minh xác định thân xe có số khung, số máy như trên là xe mô tô hiệu Exciter màu xanh, BKS: 92E1-11985 của ông Nguyễn K1 (SN: 24/01/1994, trú: L, Đ, Đ, Quảng Nam), ông K1 đã bán cho một người không rõ nhân thân lai lịch. Đối với BKS: 92L1-316.54 là của xe mô tô hiệu Yamaha Sirius của ông Nguyễn Xuân Anh Q (SN: 21/02/1999, trú: 895 N, quận T, TP .) bị trộm cắp, ngày 03/01/2024 ông Q đã đến Công an phường X, quận T trình báo. Cơ quan CSĐT Công an T tiếp tục tạm giữ xe mô tô nói trên và BKS: 92L1-316.54 để điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 06/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Lê Xuân H1 ở địa chỉ K Mẹ S, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng phát hiện Lê Xuân H1 có hành vi tàng trữ 9,262 gam ma tuý loại Methamphetamine ở bàn nhựa góc phòng ngủ của ngôi nhà nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 53/CT-VKS-P1 ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo tự thú; có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy và biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn bất chấp thực hiện việc tàng trữ trái phép ma tuý. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây tổn hại đến sức khỏe và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử và áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội,. Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét cho bị cáo vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã tự thú và khai báo kịp thời, rõ ràng các hành vi vi phạm của mình để quyết định cho bị cáo mức hình phạt ở khoảng đầu của khung hình phạt là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội về ma túy nên căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định trong phong bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia bị cáo sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Đối với thẻ sim số: 0796651459 là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, bị vỡ màn hình (đã bị hỏng) của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về các vấn đề liên quan đến vụ án:
[8.1] Đối với đối tượng L bán ma tuý cho bị cáo quá trình điều tra chưa xác định nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
[8.2] Đối với Hoàng Minh K và Lê Phước Anh T có hành vi bán ma túy cho bị cáo Lê Xuân H1 vào ngày 19/4/2024 đã bị khởi tố, điều tra trong vụ án khác (quyết định khởi tố vụ án số 113/QĐ-ĐCSMT ngày 14/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T) nên không đề cập đến.
[8.3] Đối với việc bị cáo khai nhận mua ma túy vào ngày 19/4/2024 để về sử dụng của Lê Xuân H1 nhưng không thu giữ được ma túy nên không có cơ sở xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Xuân H1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 06/7/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt tiền bị cáo Lê Xuân H1 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với: Toàn bộ chất ma tuý còn lại sau khi đã giám định và toàn bộ bao gói mẫu trong 01 (một) bì giấy ký hiệu H đã được niêm phong bằng các dấu tròn đỏ của Phòng K2 Công an thành phố Đ, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên và 01 (một) thẻ sim số: 0796651459.
Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia của bị cáo Lê Xuân H1.
T1 trả lại cho bị cáo Lê Xuân H1 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen đã bị hỏng, mặt sau có ghi số Imei: 357558/06/102220.
(Toàn bộ vật chứng hiện Chi Cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2025).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Xuân H1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Anh Tuấn |
Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 58/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Xuân H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
