Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HS-ST

Ngày 13-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh

Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Tân

Bà Nguyễn Thị Mai Vinh

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kiều Dâng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 282/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2025/HSST-QĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo.

Hoàng Thu T, sinh ngày 31 tháng 7 năm 1988, tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: SỐ A T, TDP T, Đ, H, Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Không xác định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Đình T1 (đã chết) và bà Hoàng Thị N; có chồng Trần Ngọc V và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam ngày 03/3/2024, tại Trại tạm giam số 2 công an thành phố H, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thu T:Bà Hoàng Thị H - Luật sư Văn phòng L1 và Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn H1; sinh năm 1967, nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 7/2019, Hoàng Thu T được biết ông Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1967) có nhu cầu lo thủ tục cho con trai là anh Nguyễn Văn Đ (sinh năm 2000, cùng cư trú tại: Thôn T, xã K, T, Hải Phòng) đi du học tại Canada. Do đang cần tiền chi tiêu cá nhân và trả nợ nên mặc dù bản thân chỉ là lao động tự do, không có khả năng làm thủ tục đi du học Canada, nhưng Hoàng Thu T đã có hành vi gian dối, tự nhận bản thân là thư ký cho Phó Giám đốc sân bay N, có nhiều mối quan hệ trong ngành hàng không, để ông H1 tin tưởng giao tổng số tiền 934.000.000 đồng cho T để nhờ lo thủ tục đi du học Canada cho anh Nguyễn Văn Đ. Tuy nhiên, sau khi nhận 934.000.000 đồng, T không lo thủ tục gì mà sử dụng toàn bộ số tiền trên vào mục đích cá nhân, trả nợ hết.

Cùng thời điểm trên, Hoàng Thu T cũng thỏa thuận với gia đình ông Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1973, nơi cư trú: Thôn T, xã K, T, Hải Phòng, là em trai ông Nguyễn Văn H1) để xin việc cho anh Nguyễn Hồng S (con trai ông H2) vào làm việc tại bộ phận an ninh sân bay N. Hoàng Thu T đã ứng trước 5.000.000 đồng nộp lệ phí ban đầu cho Công ty CP Đ1 để cho S tham gia đào tạo nghiệp vụ hàng không (trước khi nhận tiền từ ông H2). Sau đó, gia đình ông H2 04 lần chuyển tiền cho T với tổng số tiền là 450.000.000 đồng theo yêu cầu của T. Sau đó, anh S được bố trí làm việc tại khu vực kho hàng sân bay N. Do chờ đợi lâu, không được công việc như thỏa thuận, gia đình ông Nguyễn Văn H2 yêu cầu T hoàn trả số tiền trên. Hoàng Thu T đã trả lại cho ông H2 số tiền là 200.000.000 đồng.

Do Hoàng Thu T không thực hiện đúng thỏa thuận và không liên lạc được với T nên ông Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H2 đã trình báo đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố H. Cơ quan điều tra đã thụ lý, khởi tố đối với Hoàng Thu T. Hiện Hoàng Thu T bị tạm giam chờ xét xử theo Quyết định khởi tố vụ án số 98 ngày 07/02/2024 của Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Hà Nội về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Hoàng Thu T khai phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Văn H1. Đối với số tiền 450.000.000 đồng bị can T nhận của ông Nguyễn Văn H2, T đã thỏa thuận và chuyển 200.000.000 đồng cho Hà Thị Ngọc L (sinh năm 1975, nơi ĐKTT: 10/37/191 Đ, L, N, Hải Phòng) để nhờ L giúp xin việc cho cháu Nguyễn Hồng S vào bộ phận an ninh sân bay N. Trong khi chờ, Hoàng Thu T đồng thời cũng đã xin cho S vào làm việc tại khu vực kho hàng sân bay N. Do chờ đợi lâu, không được công việc như thỏa thuận, gia đình ông Nguyễn Văn H2 yêu cầu T hoàn trả lại tiền. Hoàng Thu T đã trả lại cho ông H2 số tiền là 200.000.000 đồng và nợ lại 250.000.000 đồng.

Chị Hà Thị Ngọc L khai: Hoàng Thu T và L có quan hệ quen biết từ trước. Chị L giới thiệu T đến Trung tâm đào tạo của cảng H (địa chỉ: Số B N, L, Hà Nội) để T tự liên hệ nộp hồ sơ, L không tham gia giới thiệu cũng không nhận lời xin việc giúp T. Đối với số tiền ghi trong giấy nhận nợ đề ngày 07/7/2019 là tiền chị L vay T, chị L không nhận tiền từ T để xin việc cho cháu S, L không quen biết ai tên là Nguyễn Hồng S.

Cơ quan điều tra đã tiếp nhận, thu giữ: 01 USB lưu 01 file ghi âm do Nguyễn Văn Đ cung cấp; 01 Giấy biên nhận đề ngày 20/7/2020; 01 Giấy biên nhận đề ngày 09/12/2020 do ông Nguyễn Văn H1 cung cấp; 01 Giấy cam kết nhận nợ đề ngày 04/11/2020 do ông Nguyễn Văn H2 cung cấp.

Tại bản Kết luận giám định số 2143 ngày 26/7/2024 của Phòng K - Công an T kết luận: Chữ viết trong giấy biên nhận, giấy cam kết nhận nợ và chữ ký tại các mục “người nhận nợ”, “người ghi giấy” trên các giấy biên nhận, giấy cam kết nhận nợ so với chữ viết, chữ ký của Hoàng Thu T là do cùng một người viết, ký ra.

Tại bản Kết luận giám định số 5438/KL-KTHS ngày 02/8/2024, V1 - Bộ C kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong mẫu giám định.

Kết quả xác minh điều tra:

- Cảng Hàng không quốc tế N – Chi nhánh Tổng công ty H3 xác định: Không có nhân viên nào tên Hoàng Thu T làm việc tại C1; không tiếp nhận hồ sơ xin việc tại bộ phận an ninh sân bay N đối với Nguyễn Hồng S .

- Công ty cổ phần Đ1 cung cấp: Ngày 09/7/2019, Công ty nhận được số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản của Hoàng Thu T chuyển đến nộp lệ phí đào tạo nghiệp vụ cho Nguyễn Hồng S.

Quá trình điều tra, Hoàng Thu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, các bản kết luận giám định, biên bản nhận dạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

- Vật chứng của vụ án: 01 USB lưu 01 file ghi âm, 01 Giấy biên nhận đề ngày 09/12/2020, 01 Giấy cam kết nhận nợ đề ngày 04/11/2020 lưu hồ sơ vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn H1 yêu cầu Hoàng Thu T trả lại số tiền đã chiếm đoạt.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS-P3 ngày 26/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Hoàng Thu T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo tự mình thực hiện không bàn bạc với ai, số tiền bị cáo chiếm đoạt bị cáo chi tiêu cá nhân và trả nợ hết. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với xã hội.

Bị hại khai có nội dung như bị cáo khai nhận tại phiên toà, về trách nhiệm dân sự bị hại chưa nhận bồi thường đồng nào của gia đình bị cáo, bị hại yêu cầu bị cáo Hoàng Thu T phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt, về trách nhiệm hình sự đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thu T từ 12 năm 06 tháng đến 13 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Thu T phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn H1 số tiền 934.000.000 đồng

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo:

Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và Điều luật truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, con nhỏ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng tháng 7/2019, do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân nên mặc dù bản thân chỉ là lao động tự do, không có khả năng lo thủ tục đi du học Canada, nhưng Hoàng Thu T đã có hành vi gian dối, tự nhận bản thân là thư ký cho Phó Giám đốc sân bay N, có nhiều mối quan hệ trong ngành Hàng không, để ông Nguyễn Văn H1 tin tưởng giao số tiền 934.000.000 đồng nhờ T lo thủ tục đi du học Canada cho con trai là anh Nguyễn Văn Đ. Tuy nhiên, T không thực hiện theo thỏa thuận mà sử dụng số tiền trên vào mục đích cá nhân, trả nợ hết.

Như vậy hành vi của bị cáo Hoàng Thu T đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung:

[3] Số tiền bị cáo Hoàng Thu T chiếm đoạt của bị hại là 934.000.000 đồng nên hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh địa phương do vậy, cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt: Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và số tiền bị cáo chiếm đoạt cần xử phạt bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[8] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có căn cứ nên chấp nhận.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn H1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 934.000.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của ông H1 là chính đáng và hợp pháp nên chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường đầy đủ.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng theo quy định của pháp luật.

[13] Các vấn đề khác: Đối với đơn của ông Nguyễn Văn H2 tố cáo Hoàng Thu T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của ông số tiền 450.000.000 đồng thông qua thỏa thuận xin việc cho con trai ông là anh Nguyễn Hồng S vào làm việc tại bộ phận an ninh sân bay N: Bản thân T trước khi nhận số tiền 450.000.000 đồng đã ứng trước 5.000.000 đồng để nộp lệ phí cho Công ty CP Đ1 để anh S tham gia đào tạo nghiệp vụ hàng không, sau đó T còn xin cho anh S tạm thời làm việc tại khu vực kho hàng sân bay N trong thời gian chờ đợi công việc tại bộ phận an ninh sân bay. Khi gia đình ông H2 đòi lại tiền do T không thực hiện đúng thỏa thuận, T đã trả lại cho ông số tiền 200.000.000 đồng và viết giấy cam kết nhận nợ. Còn số tiền 250.000.000 đồng T đã đưa cho chị Hà Thị Ngọc L để xin việc cho anh S, chị L chỉ nhận đó là tiền vay nợ T, ngoài ra không còn tài liệu chứng cứ nào khác. Vì vậy, chưa đủ căn cứ xác định Hoàng Thu T có ý thức chiếm đoạt số tiền 450.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn H2.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thu T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, xử phạt Hoàng Thu T 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/3/2024.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Hoàng Thu T bồi thường cho ông Nguyễn Văn H1 số tiền 934.000.000 đồng ( chín trăm ba mươi tư triệu đồng).

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Thu T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 40.020.000 đồng (bốn mươi triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường trên, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 – TANDTC;
  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PV06 Công an TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TPHР;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, НСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 58/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 14 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger