Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN M, TỈNH SƠN LA

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HS-ST

Ngày 11- 6 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoà;

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Minh Ngọc và ông Nguyễn Văn Tuấn;

  • Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn Th, sinh 07/9/1995; tại: huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Đảng phái: không; con ông Lò Văn H, sinh 1959 và bà Quàng Thị K, sinh 1963; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2025 đến nay; có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Th: Ông Đỗ Văn Thuận, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La; có mặt.

- Người làm chứng: Lò Văn T, sinh 1989, nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 11/01/2025, Lò Văn Th đi bộ tại bản P, xã C, huyện M, thì gặp Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra, Lò Văn Th đã giao nộp 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, Th khai nhận đó là ma tuý; Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng trên và thu giữ số tiền 100.000VNĐ, dẫn giải về Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện M để điều tra theo thẩm quyền.

Lò Văn Th khai nhận: khoảng 15 giờ ngày 10/01/2025, Thươi đi làm nương thì gặp một người không biết họ tên và địa chỉ, hỏi và mua được ma tuý với số tiền 300.000VNĐ mang về cất giữ đến 21 giờ 30 cùng ngày đã bán trái phép cho Lò Văn T được 100.000VNĐ; trước khi bị phát hiện, ngày 01/01/2025 Th được bán trái phép chất ma tuý cho Lò Văn T 01 lần được số tiền 100.000VNĐ, phù hợp với lời khai của T.

Ngày 11/01/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong cân tịnh tách bì, xác định khối lượng và lấy mẫu giám định tang vật thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn Th, như sau: Cục bột màu trắng trong gói nilon có khối lượng là 0,12 gam, lấy 0,03 gam làm mẫu giám định ký hiệu T, còn lại 0,09 gam ký hiệu T1; 01 mảnh nilon màu trắng niêm phong lưu kho vật chứng theo quy định. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện thực hiện trưng cầu giám định số tiền 100.000VNĐ thu giữ của Lò Văn Th.

Ngày 15/01/2025 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có Kết luận giám định số 245/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,12 gam, loại Heroine”.

Ngày 21/01/2025 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có kết luận giám định số 273/KL-KTHS, Kết luận: Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật.

Thực hiện điều tra mở rộng đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo nhưng không thu thập được tài liệu nào khác ngoài lời khai của bị cáo; đối với Lò Văn T được mua ma tuý của Th 02 lần, số ma tuý đã sử dụng hết; kết quả thử ma tuý âm tính (-), T chưa có tiền án, tiền sự; Cơ quan chức năng lập hồ sơ theo dõi.

Tại Bản cáo trạng số 34/CT-VKS-ML ngày 21/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Lò Văn Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội với mục đích mua ma túy cất giữ để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời thì bị bắt như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Lò Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn Th từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy: 0,09 gam Heroine ký hiệu T1; 01 mảnh nilon; truy thu, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000VNĐ. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Th tranh luận: đồng ý với nội dung cáo trạng và lời khai bị cáo đã trình bày; bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự thú là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hiểu biết về đời sống xã hội và pháp luật hạn chế; nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cho bị cáo hưởng hình phạt thấp nhất, không phạt bổ sung với bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, miễn tiền án phí cho bị cáo; các nội dung khác nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đối đáp tranh luận đều giữ nguyên ý kiến tranh luận; Bị cáo không bổ sung bào chữa, tranh luận; bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử thấy lời khai có trong hồ sơ đã rõ nên quyết định xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: Hồi 00 giờ 15 phút, ngày 11/01/2025, tại bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ kiểm tra phát hiện Lò Văn Th cất giữ 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng và khai nhận đó là ma tuý, cất giữ để sử dụng và bán kiếm lời, thực tế tháng 01/2025 Th đã bán trái phép chất ma tuý cho Lò văn T 02 lần được tổng số tiền 200.000VNĐ thì bị lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại kết luận giám định số: 245/KL-KTHS, ngày 15/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,12 gam, loại Heroine”. Như vậy, Lò Văn Th là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Điều 251 của Bộ luật Hình sự; theo lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của Lò Văn T xác định Th đã bán trái phép chất ma tuý cho T 02 lần là đã phạm tình tiết định khung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Người nào phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: b) Phạm tội 02 lần trở lên”.

[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo được tuyên truyền, vận động, cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý nhưng ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, nhằm mục đích tư lợi cá nhân, kiếm lời dễ dàng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với lỗi cố ý trực tiếp bị cáo không chỉ cất giấu, cất giữ trái phép 0,12 gam Heroine mà còn bán trái phép chất ma túy 02 lần, hành vi phạm tội rất nghiêm trọng; tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động mà còn ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điêu 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư, nhân thân: Bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt); bị cáo tự thú (đã khai ra hành vi bán trái phép chất ma túy cho T 02 lần). Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng ba, nhận thức pháp luật hạn chế, cần xem xét giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy), chính quyền địa phương xác định bị cáo chưa chấp hành quy định của địa phương.

[7] Về hình phạt: Từ những phân tích và nhận định trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 11/01/2025 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[9] Đối đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo nhưng không thu thập được tài liệu nào khác ngoài lời khai của bị cáo; đối với Lò Văn T được mua ma tuý của Thươi 02 lần, số ma tuý đã sử dụng hết; Thảo chưa có tiền án, tiền sự; Cơ quan chức năng lập hồ sơ theo dõi.

[10] Vật chứng của vụ án: Cơ quan chức năng đã lấy mẫu giám định 0,03 gam Heroine không hoàn lại mẫu giám định nên không có cơ sở xử lý.

Hiện đang lưu kho vật chứng: 0,09 gam Heroine ký hiệu T1 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 mảnh nilon màu trắng là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền bị cáo đã bán bán trái phép chất ma túy có được tổng cộng 200.000VNĐ là số tiền do phạm tội mà có nhưng bị cáo đã chi tiêu 100.000VNĐ nên cần truy thu, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo xin miễn nộp tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  2. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn Th 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (11/01/2025); không phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 0,09 gam Heroine ký hiệu T1; 01 mảnh nilon màu trắng của Lò Văn Th.

Truy thu, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000VNĐ của Lò Văn Th, trong đó 100.000VNĐ đã thu giữ (Chi tiết theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu ngày 09/4/2025).

  1. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thươi.

  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/6/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;

  • - VKSND tỉnh Sơn La;

  • - VKSND huyện M;

  • - CA tỉnh Sơn La (Phòng Hồ sơ, CSĐT, THAHS, Nơi giam);

  • - Chi cục THADS huyện M;

  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;

  • - Bị cáo;

  • - Người tham gia tố tụng khác;

  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 58/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T, Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger