|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2025/HS-ST Ngày: 08 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hoàng.
Ông Nguyễn Chí Lin.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Mãi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Hoàn N, sinh ngày 28/02/1992, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Số F, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Chổ ở hiện nay: ấp Ông H2, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị N1 sinh năm 1962; bị cáo không có vợ và con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Nguyễn Hoàn N đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 16/5/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo có mặt.
-
Nguyễn Thanh N2, sinh ngày 31/01/1985, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố T, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Chổ ở hiện nay: Số A ấp A, xã V, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T sinh năm 1960 và bà Tăng Diệu H1 sinh năm 1962; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị H2, sinh năm 1982 và 02 người con sinh năm 2016 và năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Nguyễn Thanh N2 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 16/5/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo có mặt.
-
Bùi Xuân T1, sinh ngày 05/8/1991, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn G, không rõ năm sinh (chết) và bà Bùi Thị M, sinh năm 1963 (chết); bị cáo có vợ tên Hồ Thị Thanh H3, sinh năm 1998 và 02 người con sinh năm 2018 và năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Bùi Xuân T1 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 23/10/2024, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo có mặt.
Bị hại: ông Lê Sỹ D, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Lưu Văn T2, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông Lê Bá H4, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, đường T, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thị H5, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: T, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1956 (có mặt).
Địa chỉ: Số F, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1982. (có mặt).
Địa chỉ: Tổ D, khu phố T, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968. ( vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, đường T, khu phố D, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Hứa Duy M1, sinh năm 1972, (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A E, đường H, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Đỗ Minh C, sinh năm 2003, (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Trần Tiến H6, sinh năm 1992, (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, đường Đ, khu phố 1, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Bùi Trung K, sinh năm 2005, (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Ông Huỳnh Chí T3, sinh năm 1986, (vắng mặt).
Địa chỉ: Số G ấp A, xã L, huyện T, tỉnh Long An.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Lê Đình S, sinh năm 1983 (vắng mặt), ông Trần Thế T4, sinh năm 1994, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 4 năm 2024, Nguyễn Hoàn N do không có tiền tiêu xài nên đã bàn bạc với Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua giao dịch mua bán phế liệu, lấy tiền chia nhau tiêu xài, T1 và N2 đồng ý. N và T1 có nhiệm vụ tìm đầu mối mua bán phế liệu và trực tiếp liên hệ với bên mua và bên bán, Nam sẽ đến các cửa hàng nhận giao dịch chuyển tiền lấy số tài khoản ngân hàng cung cấp cho bên thu mua để bên mua chuyển khoản tiền mua phế liệu vào các tài khoản này để N lấy tiền mặt từ các cửa hàng này, nhằm tránh bị theo dõi, còn N2 có nhiệm vụ liên hệ đi cùng với bên bán, giao phế liệu cho bên mua, giữ chân bên bán, không để bên bán gặp nói chuyện trực tiếp với bên mua. Khi bên thu mua chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng thành công, N nhận tiền xong thì N nhắn tin cho N2 để N2 tẩu thoát.
Đến ngày 06 tháng 5 năm 2024, Nguyễn Hoàn N sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Thanh Hai” và tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Thanh Hai” đăng tin tìm thu mua phế liệu là vỏ chai nhựa. Đến ngày 10/5/2024, Lưu Văn T2 sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Minh T5” liên lạc với N qua tài khoản tên “Thanh Hai” thỏa thuận bán 7.200kg vỏ chai nhựa phế liệu, với số tiền 17.300 đồng/kg, N đồng ý mua. Sau đó, N và Trường T8 thuộc Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An do Lê Sỹ D1 làm chủ, để bán số phế liệu của T2. Đến ngày 12/5/2024, Nam đến cửa hàng C1 thuộc Số A, đường T, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do Lê Bá H4 làm chủ, N nhờ H4 chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng, để N ghi lại số tài khoản ngân hàng của H4 được dán trên tủ cửa kính. Đến tối ngày 12/5/2024, N gửi vị trí Trạm cân của Bãi sắt An Cát T6 thuộc Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cho T2, để chở vỏ chai phế liệu đến đây. N gửi số điện thoại của N2 cho T2 và giới thiệu N2 là quản lý của N để T2 liên hệ với N2 cân và giao hàng. N cũng gửi vị trí Trạm cân của B sắt An Cát T6 và X ve chai Hoàng P cho N2 để N2 biết và chuẩn bị. Đồng thời, N sử dụng tài khoản Zalo tên “Thanh Hai” liên lạc với D1 thông qua tài khoản Zalo tên “An Nhien” thông báo ngày hôm sau sẽ có xe chở hàng phế liệu của N đến bán cho D1, khi nhận hàng xong thì D1 chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho N, D1 đồng ý.
Đến khoảng 08 giờ 50 phút ngày 13/5/2024, Trần Thế T4, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển số 47C- 221.78 đi cùng với Lưu Văn T2 chở hàng phế liệu của Văn T2 đến vị trí mà N gửi. Khi gần đến nơi, Văn T2 gọi điện thoại cho N2 để N2 dẫn đường đến trạm cân. N2 điều khiển xe mô tô biển số 54U3-3097, dẫn đường cho Văn T2 đến Trạm cân của B sắt An Cát T6, còn N đến cửa hàng C1 chờ chuyển tiền. Khi đến trạm cân, xe và hàng cân được trọng lượng 20.300kg. Sau đó, N2 điều khiển xe mô tô dẫn Văn T2 cùng xe chở hàng đến Xưởng ve chai T8 để bỏ hàng vào kho. Nhằm giữ chân, không để Văn T2 gặp D1, N2 điều khiển xe mô tô chở Văn T2 đến quán cà phê không bảng hiệu gần đó để đợi. Còn Thế T4 điều khiển xe ô tô tải chở hàng vào Xưởng ve chai của D1 để xuống hàng. Sau khi xuống hàng xong, N2 đi cùng với D1 cùng Thế T4 điều khiển xe ô tô tải biển số 47C- 221.78 đến Trạm cân của B sắt An Cát T6 cân xe được trọng lượng 13.010kg, tính ra khối lượng hàng phế liệu giao cho D1 là 7.290kg. Sau khi nhận phiếu cân hàng, N2 chụp phiếu cân hàng gửi qua Zalo cho N và tiếp tục giữ chân Văn T2 tại quán cà phê không bảng hiệu. Sau đó, D1 và N nhắn tin qua Zalo thống nhất với nhau số tiền hàng là 110.420.000 đồng. Nam gửi số tài khoản 060109267778 của Lê Bá H4 mở tại Ngân hàng TMCP S1 cho D1 và yêu cầu D1 chuyển tiền vào số tài khoản này. Đến khoảng 11 giờ 55 phút cùng ngày, D1 nhắn tin qua Zalo cho N biết đã chuyển số tiền 110.420.000 đồng vào tài khoản nêu trên thành công, N đi vào cửa hàng C1 gặp Lê Bá H4 và nói với H4 có bạn của N gửi cho N số tiền 110.420.000 đồng và nhờ H4 đưa lại tiền mặt cho N. Do số tiền giao dịch lớn nên H4 kêu N cung cấp thông tin người chuyển khoản để xác thực, Nam không xuất trình được nên H4 không đưa tiền cho N và trình báo Cơ quan Công an. Lúc này tại quán cà phê không bảng hiệu, N2 lấy lý do đi vào xưởng để lấy tiền trả cho Văn T2, rồi điều khiển xe mô tô bỏ trốn về nhà. Văn Thành thấy lâu nhưng chưa nhận được tiền nên đi vào xưởng ve chai T8 thì gặp Lê Sỹ D1. Quá trình nói chuyện, D1 biết Văn Thành mới là chủ hàng phế liệu đã giao cho D1, không phải N, nên D1 đến Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tố giác vụ việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Hoàn N và Nguyễn Thanh N2 khai nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng tạm giữ:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro, màu xanh, IMΕΙ 353838105825695, sim số 0778567891; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Bavapen, loại B18, màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đen, biển số 60F2-806.95 (tạm giữ của Nguyễn Hoàn N).
01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại Y30, màu xanh, IMEI 1: 864588046221635, IMEI 2: 864588046221627, sim 1: 0906375832, sim 2: 0568002876; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, màu bạc, số khung: RLHJF24079Y040275, số máy: JF24E0045843 (tạm giữ của Nguyễn Thanh N2). Số tiền 110.420.000 đồng (do Lê Bá H4 giao nộp).
Đến ngày 23/10/2024, Bùi Xuân T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An đầu thú hành vi phạm tội.
Vật chứng tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại Reno 11 5G, màu xanh, số sim 0792222818.
Tại Kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An, kết luận: “Phế liệu (vỏ chai nhựa) PET, khối lượng 7290 kg, trị giá 118.827.000 đồng.”
Qua điều tra xác định: Từ khoảng tháng 12 năm 2023 đến tháng 5 năm 2024, với hình thức, thủ đoạn tương tự, Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 còn thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản khác tại địa phận các huyện B; huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và huyện T, tỉnh Long An, cụ thể như sau:
Nguyễn Hoàn N thực hiện 01 vụ chiếm đoạt tài sản của người khác tại địa phận huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ cụ thể thời gian, địa chỉ và nhân thân lai lịch của bị hại) với số tiền chiếm đoạt là 40.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Nguyễn Hoàn N cùng với Bùi Xuân T1 thực hiện 03 vụ chiếm đoạt tài sản của người khác tại địa phận huyện C, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và huyện T, tỉnh Long An (không rõ địa chỉ và nhân thân lai lịch của bị hại) với tổng số tiền chiếm đoạt khoảng 160.000.000 đồng, N và T1 chia đôi số tiền này, mỗi người được số tiền khoảng 80.000.000 đồng. N đưa tiền mặt cho T1 số tiền khoảng 50.000.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 45 phút ngày 11/5/2024, Nam đến cửa hàng cầm đồ bảng hiệu Anh Q 88, địa chỉ tại Số A, đường Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nhờ Đỗ Minh C chuyển vào tài khoản ngân hàng số 2005289999 do Bùi Trung K (cháu của Bùi Xuân T1) mở tại Ngân hàng T9 (T10) số tiền 30.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, K chuyển số tiền này vào tài khoản ngân hàng số 6611205170470 do Bùi Xuân T1 mở tại Ngân hàng N3 (A), T1 tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 11/5/2024, N, T1 và N2 cùng nhau thực hiện 01 vụ chiếm đoạt tài sản của người khác tại vựa ve chai của người có tên T7 thuộc địa phận xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ địa chỉ và nhân thân lai lịch của bị hại) với số tiền chiếm đoạt là 116.000.000 đồng, N chia cho N2 số tiền 7.000.000 đồng, N2 tiêu xài cà nhân hết. Đến 12 giờ 57 phút ngày 11/5/2024, N đến cửa hàng C1, nhờ Lê Bá H4 chuyển vào tài khoản ngân hàng của Bùi Trung K số tiền 50.000.000 đồng để chia tiền thu lợi bất chính cho T1. H4 chuyển tiền vào số tài khoản này 02 lần, lần thứ nhất chuyển số tiền 20.000.000 đồng, lần thứ hai chuyển số tiền 30.000.000 đồng, với nội dung “trả nợ”. Sau khi nhận được tiền, K chuyển số tiền 44.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Bùi Xuân T1, T1 tiêu xài cá nhân hết, còn số tiền 6.000.000 đồng T1 nhờ K mua đồ dùng cá nhân giúp cho T1. Riêng N lấy số tiền 59.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKSĐH ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Hoàn N, Nguyễn Thanh N2 và Bùi Xuân T1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại ông Lê Sỹ D1 trình bày: Ông xác định diễn biến sự việc và hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng nêu. Đối với số tiền 110.420.000 đồng các bị cáo chiếm đoạt, hiện nay ông đã nhận lại xong vào ngày 25/5/2024. Nay ông không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Bá H4 trình bày; ông là chủ cửa hàng C1, vào khoảng 11 giờ ngày 55 phút ngày 13/5/2024, tài khoản của ông có nhận số tiền 110.420.000 đồng, sau đó N đến yêu cầu ông đưa tiền mặt cho N, tuy nhiên Nam không cung cấp được thông tin người chuyển khoản để xác thực, nhưng N không cung cấp được, nên ông trình báo Cơ quan Công an, hiện nay số tiền 110.420.000 đồng ông đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xong. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì trong vụ án.
Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàn N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàn N mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2024.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo mức án 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2024.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N2 mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Đề nghị áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với số tiền 110.420.000 đồng do Lê Bá H4 tự nguyện giao nộp là số tiền của Lê Sỹ D1 bị chiếm đoạt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho D1 xong vào ngày 25/5/2024, ông Lê Sỹ D1 không yêu cầu gì trong vụ án, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Lưu Văn T2 đã nhận lại được số hàng phế liệu và đã bán cho người khác, không bị thiệt hại gì, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro, màu xanh, IMEI 353838105825695; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Bavapen, loại B18, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại Y30, màu xanh, IMEI 1: 864588046221635, IMEI 2: 864588046221627, đây là tang vật của các bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại Reno 11 5G, màu xanh và sim số 0792222818, đây là tài sản của bị cáo Bùi Xuân T1, không liên quan đến vụ án, nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đen, biển số 60F2-806.95; đây là tài sản của ông Nguyễn Văn H, nên đề nghị hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn H.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, màu bạc, số khung: RLHJF24079Y040275, số máy: JF24E0045843, đây là tài sản của bà Nguyễn Thị H2, nên đề nghị hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị H2.
Đối với sim số 0778567891, sim 1: 0906375832, sim 2: 0568002876, đây là tang vật của vụ án, nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tách phần dân sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
Đối với các vụ án do các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 thực hiện trên địa bàn các huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; B, Thành phố Hồ Chí Minh và huyện T, tỉnh Long An, hiện không xác định được các bị hại trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao đổi thông tin về tội phạm cho Cơ quan Công an các địa phương trên và tiến hành thông báo truy tìm bị hại trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng đến nay không có kết quả.
Đối với Bùi Trung K, có hành vi nhận tiền từ Nguyễn Hoàn N sau đó chuyển lại cho Bùi Xuân T1, nhưng K không biết số tiền này do các bị cáo Nguyễn Hoàn N và Bùi Xuân T1 phạm tội mà có, nên hành vi của Bùi Trung K không cấu thành các tội phạm có liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản xác định vật chứng, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng với Kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản thực nghiệm điều tra và phù hợp với nội dung bản Cáo trạng.
Thấy rằng, vào khoảng 11 giờ 55 phút ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Xưởng ve chai bảng hiệu T8 thuộc Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 có hành vi dùng thủ đoạn gian dối trong giao dịch mua bán vỏ chai nhựa phế liệu chiếm đoạt của Lê Sỹ D1 số tiền 110.420.000 đồng.
Qua kết quả điều tra các bị cáo Nguyễn Hoàn N và Nguyễn Thanh N2 đã tự thú khai nhận ngoài hành vi phạm tội nêu trên, các bị cáo N, N2 và T1 còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người có tên T7 tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, với số tiền chiếm đoạt là 116.000.000 đồng, N chia cho N2 số tiền 7.000.000 đồng, chia cho T1 số tiền 50.000.000 đồng, N giữ lại số tiền 59.000.000 đồng, tất cả tiêu xài cá nhân hết.
Ngoài ra, với phương thức và thủ đoạn tương tự, các bị cáo N và T1 còn thực hiện 03 lần chiếm đoạt tài sản của người khác, với tổng số tiền chiếm đoạt khoảng 160.000.000 đồng, N và T1 mỗi người được số tiền 80.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Đồng thời, bị cáo N còn tự mình thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác số tiền 40.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Như vậy tổng số tiền bị cáo N đã chiếm đoạt từ hành vi lừa đảo là 426.420.000 đồng; tổng số tiền bị cáo T1 đã chiếm đoạt 386.420.000 đồng; tổng số tiền bị cáo N2 đã chiếm đoạt là 226.420.000đồng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo gây ra là nguy hiểm. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.
Khi thực hiện các hành vi phạm tội trên, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của các bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Đây là vụ án đồng phạm, do đó, khi áp dụng hình phạt cần phân hóa vai trò, số tiền thu lợi bất chính của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt.
Bị cáo N và T1 thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người chủ mưu, rủ rê, bàn bạc, chọn địa điểm để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo N2 thực hiện tội phạm với vai trò là người giúp sức cho bị cáo N và bị cáo T1.
Thấy rằng, các bị cáo phạm tội không có sự câu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, lên kế hoạch với nhau từ trước, từng lần phạm tội đều không được các bị cáo bàn bạc, thống nhất với nhau trước khi thực hiện; khi nhận thấy có điều kiện để thực hiện hành vi thì thông báo để các bị cáo còn lại biết và cùng nhau thực hiện, nên không có căn cứ áp dụng tình tiết “Phạm tội có tổ chức” đối với các bị cáo.
[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo N đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác 06 lần; bị cáo T1 đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác 05 lần; bị cáo N2 đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác 02 lần. Do đó, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ:Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tự khai nhận các lần phạm tội trước đó. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo N và bị cáo N2. Bị cáo T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thanh N2 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận, bị cáo T1 ra đầu thú do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo N2 và bị cáo T1.
Xét thấy, bị cáo N2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với vai trò là người giúp sức cho bị cáo N và T1, chỉ được bị cáo N chia số tiền 7.000.000 đồng, nên có cơ sở xác định bị cáo N2 là đồng phạm với vai trò không đáng kể. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo N2 là phù hợp với khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Từ phân tích [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro, màu xanh, IMEI 353838105825695; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Bavapen, loại B18, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại Y30, màu xanh, IMEI 1: 864588046221635, IMEI 2: 864588046221627, đây là tang vật của các bị cáo dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đen, biển số 60F2-806.95; đây là tài sản của ông Nguyễn Văn H, nên hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn H là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, màu bạc, số khung: RLHJF24079Y040275, số máy: JF24E0045843, đây là tài sản của bà Nguyễn Thị H2, nên hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị H2 là phù hợp.
Đối với sim số 0778567891, sim 1: 0906375832, sim 2: 0568002876, đây là tang vật của vụ án, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại Reno 11 5G, màu xanh, số sim 0792222818, là tài sản của Bùi Xuân T1 không liên quan đến hành vi phạm tội, nên xem xét trả lại cho bị cáo T1.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền 110.420.000 đồng do Lê Bá H4 tự nguyện giao nộp là số tiền của Lê Sỹ D1 bị chiếm đoạt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho D1 xong vào ngày 25/5/2024, ông Lê Sỹ D1 không yêu cầu gì trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Lưu Văn T2 đã nhận lại được số hàng phế liệu và đã bán cho người khác, không bị thiệt hại gì, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với các vụ án do các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 thực hiện trên địa bàn các huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; B, Thành phố Hồ Chí Minh và huyện T, tỉnh Long An, hiện không xác định được các bị hại trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao đổi thông tin về tội phạm cho Cơ quan Công an các địa phương trên và tiến hành thông báo truy tìm bị hại trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng đến nay không có kết quả. Do chưa có căn cứ xác định yêu cầu của các bị hại này về phần trách nhiệm dân sự, nên không có căn cứ để giải quyết, khi có yêu cầu sẽ giải quyết trong vụ án dân sự khác.
[7]. Đối với Bùi Trung K, có hành vi nhận tiền từ Nguyễn Hoàn N sau đó chuyển lại cho Bùi Xuân T1, nhưng K không biết số tiền này do các bị cáo Nguyễn Hoàn N và Bùi Xuân T1 phạm tội mà có, nên hành vi của Bùi Trung K không cấu thành các tội phạm có liên quan
[8]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm r, s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàn N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2024.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân T1 07(bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2024.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh N2 03(ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2024.
Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08 tháng 4 năm 2025).
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm r, s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro, màu xanh, IMEI 353838105825695; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Bavapen, loại B18, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại Y30, màu xanh, IMEI 1: 864588046221635, IMEI 2: 864588046221627.
- Tịch thu tiêu hủy: sim số 0778567891, sim số 0906375832, sim số 0568002876.
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, màu đen, biển số 60F2-806.95.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị H2: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, màu bạc, số khung: RLHJF24079Y040275, số máy: JF24E0045843.
- Trả lại cho Bùi Xuân T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, loại Reno 11 5G, màu xanh và sim số 0792222818.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 24-07/11/2024 ngày 07 tháng 11 năm 2024 và số 84-28/02/2025 ngày 28 tháng 02 năm 2025.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc các bị cáo Nguyễn Hoàn N, Bùi Xuân T1 và Nguyễn Thanh N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo. Riêng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Bình An |
Bản án số 58/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 58/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàn Nam, Bùi Xuân Trường và Nguyễn Thanh Nhựt phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
