trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST.

Ngày 30/6/2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An.

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1988.

Cư trú tại: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: anh Nguyễn Trung H, sinh năm 1985.

Cư trú tại: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; tạm trú: khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

(Chị P, anh H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Trung H chung sống với nhau từ năm 2013, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện T (nay là phường G, thị xã T), tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới, vợ chồng chị sống cùng nhà mẹ ruột của chị tại khu phố L, phường G. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần phát sinh mâu thuẫn do tính tình của vợ, chồng không còn phù hợp với nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống thường ngày, chị nghi ngờ anh H có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không còn lòng tin về tình cảm đối với nhau, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, nặng nề, không còn hạnh phúc. Vợ chồng chị đã tự ly thân từ tháng 6/2019 đến nay, anh H đã quay về nhà cha mẹ ruột của anh H sống tại khu phố G, phường G, thị xã T; vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh H.

Về con chung: vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 25/12/2014. Cháu K hiện đang sống chung với chị, cháu rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh gì. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng chị không nợ ai.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Nguyễn Trung H trình bày: anh thống nhất với lời trình bày của chị P về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống giữa vợ, chồng có tính tình không hợp nhau nên thường xuyên gây gỗ nhau và đã tự ly thân từ năm 2019 đến nay, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, không còn hạnh phúc. Nay anh đồng ý ly hôn chị P.

Về con chung: vợ chồng anh có 01 người con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 25/12/2014. Cháu K hiện đang sống chung với chị P, cháu rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh gì. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu K cho chị P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng anh không nợ ai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim P đối với anh Nguyễn Trung H. Chị P được ly hôn anh H.

Về con chung: đề nghị giao cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 25/12/2014 cho chị Nguyễn Thị Kim P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: ghi nhận chị P, anh H không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: chị P, anh H trình bày không có nợ.

Về án phí: chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Kim P và anh Nguyễn Trung H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị P và anh H chung sống với nhau vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Do đó, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng dần xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng chị P, anh H đã tự ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn chung sống với nhau. Nay chị P yêu cầu ly hôn và anh H cũng đồng ý ly hôn chị P.

Xét thấy, chị P và anh H tự nguyện thuận tình ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, do chị P và anh H đều vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P đối với anh H, cho chị P được ly hôn anh H là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: vợ chồng chị P, anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 25/12/2014 hiện đang sống chung với chị P. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K và anh H cũng đồng ý giao cháu K cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án, cháu K cũng có nguyện vọng được theo sống cùng mẹ khi cha, mẹ ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu K cho chị P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: ghi nhận chị P, anh H không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: chị P, anh H trình bày không có nợ.

[5] Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[6] Án phí: chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim P đối với anh Nguyễn Trung H.

Chị Nguyễn Thị Kim P được ly hôn anh Nguyễn Trung H.

2. Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 25/12/2014 cho chị Nguyễn Thị Kim P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ghi nhận chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: ghi nhận chị P, anh H không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: chị P, anh H trình bày không có nợ.

5. Án phí: chị Nguyễn Thị Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012292 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị P đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: chị P, anh H có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thị xã Trảng Bàng;
  • - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
  • - UBND phường Gia Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim Ph ly hôn Nguyễn Trung H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger