|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 5 năm 2025
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;
Bà Nguyễn Thị Phẩm.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị Đ, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Khu T, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn X, sinh năm 1985.
HKTT: Khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang ở nước ngoài (Malaysia).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lương Thị H; sinh năm 1962;
Địa chỉ: Khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Chị Lương Thị Đ đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Lương Thị H và anh Hoàng Văn X vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lương Thị Đ trình bày: Chị và anh Hoàng Văn X kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ ngày 25/10/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và cách xây dựng làm ăn kinh tế, hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2021. Chị Đ đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại khu T, xã H, thị xã P từ đó cho đến nay. Chị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn anh X để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị Đ xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị Đ xác định vợ chồng không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn: Anh Hoàng Văn X hiện đang ở nước ngoài thể hiện tại công văn số: 20396/QLXNC-P3 ngày 09/9/2024 của Cục Q xác định anh Hoàng Văn X, sinh ngày 02/02/1985, có thông tin nhập xuất cảnh nhiều lần (07 lượt), lần cuối xuất cảnh ngày 03/4/2019 qua cửa khẩu N bằng hộ chiếu số C6453555, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do chị Đ không biết địa chỉ của anh X ở đâu tại nước ngoài nên Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà Lương Thị H là mẹ của anh X, bà H không hợp tác làm việc, không cung cấp địa chỉ của anh H ở nước ngoài. Nhưng qua xác minh tại địa phương và làm việc với ông Đặng Quốc T là trưởng khu 4, xã T, ông T có liên lạc với bà Lương Thị H và được bà H cung cấp: Gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đã thông báo cho anh X được biết nhưng anh X không có quan điểm. Bà H cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh X ở nước ngoài.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về những nội dung sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị xử :
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lương Thị Đ được ly hôn với anh Hoàng Văn X
- Về án phí: Chị Đ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Hoàng Văn X đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Theo Công văn số: 20396/QLXNC-P3 ngày 09/9/2024 của Cục Q xác định anh X xuất cảnh ngày 03/4/2019 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong vụ án này anh X không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.
Chị Đ đề nghị xin ly hôn với anh X và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh X mà không cung cấp được địa chỉ anh X ở chỗ nào tại nước ngoài. Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng thông qua mẹ đẻ của anh X là bà Lương Thị H. Bà H đã thông báo cho anh X biết, bà H và gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh X ở đâu tại nước ngoài, bản thân anh X không cung cấp địa chỉ mặc dù đã được bà H thông báo. Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lương Thị Đ vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Đ và anh Hoàng Văn X kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ ngày 25/10/2018, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo chị Đ trình bày giữa chị Đ và anh X có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu do quan điểm sống không hợp nhau, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh X. Mặc dù anh X không có lời khai xong qua xác minh tại địa phương xác định tình cảm vợ chồng giữa chị Đ và anh X có nhiều mâu thuẫn, chị Đ cũng đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy chị Đ và anh X là vợ chồng nhưng không liên lạc và không biết địa chỉ của nhau, theo đó cho thấy anh chị đã không còn tình cảm, quan tâm, trách nhiệm gì với nhau theo nghĩa vợ chồng. Do vậy, có căn cứ để xác định tình cảm vợ chồng giữa chị Đ và anh X đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị Đ được ly hôn anh X là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Đ và anh X không có con chung nên Tòa án không đặt ra xem xét.
[3] Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp chung của vợ chồng: Chị Đ không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Chị Đ phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 điều 56 và điều 123 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; khoản 1, 2 điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: cho Chị Lương Thị Đ ly hôn anh Hoàng Văn X.
[2] Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp chung của vợ chồng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Lương Thị Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Đ đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số: 0000372 ngày 14/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
[4] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đương sự cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Hương |
Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lương Thị Đ khởi kiện ly hôn với anh Hoàng Văn X và được chấp nhận yêu cầu khởi kiện
