Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MCB

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29-5-2025

V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MCB, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảy

Ông Phạm Văn Út

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nhân – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 60/2025/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19/5/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy D, sinh năm 1996;

Địa chỉ: ấp TP, xã KTT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 2000;

Địa chỉ: ấp MSĐ, xã PM, huyện MCB, tỉnh Bến Tre.

(Tất cả vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Thúy D trình bày:

Bà và ông Phạm Văn T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã KTT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre vào ngày 11/3/2022. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng khoảng 01 năm nay thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông T có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, không còn yêu thương bà, không quan tâm và chăm sóc dạy bảo con cái. Vợ chồng bà đã ly thân nhau, tuy nhiên vẫn còn liên lạc để cho nhau cơ hội hàn gắn lại hạnh phúc gia đình nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Bà nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung

sống và hòa hợp trở lại nên bà có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T. Bà có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Trần Quỳnh A, sinh ngày 17/02/2022. Sau khi ly hôn, bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà D khai không có.

- Về nợ chung: Bà D khai không có.

Bị đơn ông Phạm Văn T không đến Tòa án nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thúy D; về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Trần Quỳnh A, sinh ngày 17/02/2022. Sau khi ly hôn, bà D được tiếp tục nuôi con chung; Ghi nhận bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung bà D khai không có nên không xem xét giải quyết; Về nợ chung: không có nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét đây là vụ án xin ly hôn, bị đơn hiện đang cư trú tại xã KTT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre nên căn cứ Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2] Bị đơn ông Phạm Văn T không đến Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre không thể tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn không đến Tòa án không vì không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà D và ông T là đúng quy định.

[3] Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy D và ông Phạm Văn T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KTT, huyện MCB, tỉnh Bến Tre vào ngày 11/3/2022 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, khoảng 01 năm nay thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là theo bà D trình bày là do ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, vợ chồng ly thân với nhau. Bà có cho ông T cơ hội để hàn gắn lại hạnh phúc gia đình nhưng ông T vẫn không thay đổi. Nay bà D xác định không còn tình cảm với chồng nên bà có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Xét thấy mâu thuẫn giữa bà D và ông T thực tế đã xảy ra. Căn cứ theo biên bản xác minh bà Trần Thị B, bà con cô cậu với bà D vào ngày 25/3/2025 cho biết: Bà thấy vợ chồng bà D với ông T không có sống chung với nhau, lâu lâu ông T mới về nhà bà D. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông T và bà D do ông T không chịu lo làm ăn, chời cờ bạc đá gà mạng. Gia đình có khuyên can ông T nhưng không thay đổi. Hội đồng xét

xử xét thấy bà D nộp đơn ly hôn, Tòa án mời ông T nhiều lần đến Tòa án hòa giải nhưng ông T không đến, ông T có thái độ bỏ mặc cho cuộc hôn nhân vợ chồng ông, điều này cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà D và ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà D có đơn xin ly hôn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Vợ chồng bà D và ông T có 01 con chung tên Phạm Trần Quỳnh A, sinh ngày 17/02/2022. Sau khi ly hôn, bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, Hội đồng xét xử thấy hiện nay cháu Quỳnh A đang sống cùng bà D nên chấp nhận yêu cầu của bà D được tiếp tục nuôi con chung. Ghi nhận bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung: Bà D khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: Bà D khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Xét thấy ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[8] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000(Ba trăm nghìn) đồng bà Trần Thị Thúy D phải nộp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 28, 35, 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thúy D cụ thể tuyên:

- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy D được ly hôn với ông Phạm Văn T.

- Về con chung: Bà Trần Thị Thúy D và ông Phạm Văn T có 01 con chung tên Phạm Trần Quỳnh A, sinh ngày 17/02/2022. Sau khi ly hôn, bà Trần Thị Thúy D được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Ghi nhận bà Trần Thị Thúy D không yêu cầu ông Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Phạm Văn T được quyền đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thúy D khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Trần Thị Thúy D khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà Trần Thị Thúy D phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009311 ngày 10/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện MCB. Bà Trần Thị Thúy D đã nộp xong tiền án phí.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện MCB;
  • - Chi Cục THADS huyện MCB;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã KTT;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Đoan Trang

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

TP- CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Út

Nguyễn Văn Bảy

Nguyễn Thị Đoan Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MCB, TỈNH BẾN TRE về xin ly hôn

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MCB, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Thúy D xin ly hôn ông Phạm Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger