Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-02-2025

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa

Ông Võ Duy Bảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 508/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1990; Địa chỉ: Xóm 5, xã Diễn Liên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1990. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm 5, xã Diễn Liên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở Nhật Bản. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Chị và anh Lê Văn C kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diễn Liên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An vào ngày 21/01/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì cuối năm 2019 anh C đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản. Từ đó do khoảng cách địa lý xa xôi nên vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng không liên lạc, không ai quan tâm ai về vật chất lẫn tinh thần. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn C.

Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Lê Văn C không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lê Văn C, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Phạm Thị L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh C ở Nhật Bản. Theo chị L trình bày anh C vẫn thường xuyên liên lạc về với bố mẹ đẻ là ông Lê Văn Linh và bà Dương Thị Hoài; địa chỉ cư trú: Xóm 5, xã Diễn Liên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và ông Linh, bà Hoài biết địa chỉ cụ thể của anh C ở Nhật Bản; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho ông Lê Văn Linh và bà Dương Thị Hoài (là bố mẹ đẻ của anh Lê Văn C) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để chị L thông báo cho anh C và đề nghị anh C nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị L. Tại đơn trình bày chị Phạm Thị L cho biết chị thường xuyên liên lạc với anh C. Thông qua chị thì anh C đồng ý ly hôn với chị L và Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của anh C trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh C không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Lê Văn C. Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Lê Văn C không có con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình có đương sự hiện đang ở Nhật Bản. Trước khi xuất cảnh anh Lê Văn C có địa chỉ tại xã Diễn Liên, huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  2. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Lê Văn C hiện đang ở Nhật Bản, không có địa chỉ cụ thể. Ông Lê Văn Linh và bà Dương Thị Hoài, bố mẹ đẻ anh C đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu chị ông Linh và bà Hoài cung cấp địa chỉ cụ thể của anh C ở Nhật Bản nhưng ông Linh và bà Hoài không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh C trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Nguyên đơn chị Phạm Thị L vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Lê Văn C vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

  3. Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Lê Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian ngắn thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, anh C đang sinh sống làm việc ở tại Nhật Bản, chị L ở Việt Nam, hai bên không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Chị L có nguyện vọng được ly hôn với anh C. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa hai bên không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị L được ly hôn với anh C là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
    2. Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Lê Văn C không có con chung.
    3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
  4. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Chị Phạm Thị L phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị L.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Lê Văn C.
    • - Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Lê Văn C không có con chung.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
  2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013041 ngày 19 tháng 07 năm 2024.
  3. Chị Phạm Thị L có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; Anh Lê Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Diễn Liên, h. Diễn Châu, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger