Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN BIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2025

“V/v Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Gấm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Mộng Lànhbà Trần Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2025/QĐ-ST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng N, sinh năm 2001; (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp C Biển A, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Lý Văn T, sinh năm 1994; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Lê Thị Hồng N trình bày như sau:

Chị N và anh T chung sống với nhau vào năm 2022, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, anh chị có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang ngày 24/5/2024.

Vợ chồng chung sống đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T tham gia tệ nạn xã hội, vợ chồng thường xuyên cự cãi qua lại với nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã hàn gắn nhiều lần, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân từ năm 2024 đến nay.

Về quan hệ hôn nhân: Chị N yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn anh Lý Văn T có ý kiến: Anh T cho rằng mình không có sai lầm gì trong đời sống vợ chồng, anh làm nghề đi ghe biển chăm lo gia đình, vợ ở nhà có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác, bỏ bê gia đình không còn quan tâm anh, vợ chồng ly thân từ ngày 17/01/2025 đến nay. Anh T về ấp M sinh sống từ tháng 02/2025 đến nay, hai vợ chồng nói chuyện cứ cự cãi qua lại. Về hôn nhân: Không đồng ý ly hôn, xin đoàn tụ gia đình. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị N giữ nguyên yêu cầu, ý kiến như đã trình bày. Anh Thanh vắng M nên không ghi nhận ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định, đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập lần 02 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, xử cho chị N được ly hôn với anh T; Về con chung, tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Không có, nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện A nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn anh Thanh vắng M tại phiên tòa lần 02 không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án: Chị N yêu cầu được ly hôn với anh T và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung nên quan hệ pháp luật của vụ án được xác định là “Ly hôn”.

Chị N kết hôn với anh T trên cơ sở tự nguyện và đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang ngày 24/5/2024 nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hòa giải để tạo điều kiện cho anh T và chị N hàn gắn gia đình, tuy nhiên do chị N vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn, vợ chồng anh chị đã tự ly thân từ năm 2024 đến nay, không còn quan tâm chăm lo, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, tại phiên tòa chị N yêu cầu được ly hôn với anh T, không đồng ý đoàn tụ gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa anh, chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Hồng N được ly hôn với anh Lý Văn T.

Về con chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị N xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị N1 có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Hồng N được ly hôn với anh Lý Văn T.
  2. Về con chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ và người khác nợ vợ chồng: Chị N xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị Hồng N có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0011937 ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị N đã nộp xong án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Chi cục THADS huyện An Biên;
  • - VKSND huyện An Biên;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tây Yên A;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn (V).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên và đóng dấu)

Thị Gấm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger