TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19/6/2025
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân
Ông Hoàng Sỹ Lĩnh
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 của Tòa án Lâm Hà giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm:1994.
- Bị đơn: anh Văn Minh H1, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ liên hệ: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(chị H và anh H1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: chị và anh Văn Minh H1 xây dựng gia đình với nhau năm 2022, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, anh H1 còn ham chơi, không chịu làm ăn kinh tế. Khi xảy ra mâu thuẫn chị H cũng đã nhiều lần cho anh H1 cơ hội để thay đổi nhưng không được nên anh chị đã tự sống ly thân từ giữa năm 2024 cho đến nay. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1 vì vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Về con chung chị H xác định vợ chồng có hai con chung là Văn Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 04/12/2022 và Văn Nguyễn An N, sinh ngày 06/5/2024. Khi ly hôn chị H đề nghị được nuôi cả hai con chung, yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 1.500.000đồng/1 cháu/ tháng. Về tài sản chung và nợ chung: chị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Ngoài ra, chị H không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Văn Minh H1 trình bày: anh và chị H kết hôn vào năm 2022 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay chị H làm đơn ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn vì hiện nay các con còn nhỏ. Về con chung: anh H1 xác định vợ chồng có vợ chồng có hai con chung là Văn Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 04/12/2022 và Văn Nguyễn An N, sinh ngày 06/5/2024 như chị H trình bày là đúng. Về tài sản chung và nợ chung: anh H1 xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H1 vắng mặt, còn chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ cho anh H1 và anh H1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến gởi đến Tòa án. Do bận công việc nên chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, anh Văn Minh H1 cũng có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt gửi đến Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Về con chung: giao cả hai con chung là Văn Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 04/12/2022 và Văn Nguyễn An N, sinh ngày 06/5/2024 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 3.000.000đồng/tháng/hai cháu. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự xác định không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí, buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, anh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Văn Minh H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Văn Minh H1 theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị H và anh H1 xây dựng gia đình với nhau vào năm 2022, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 09/11/2022. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của chị H và anh H1 là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị H làm đơn khởi kiện ly hôn. Xét thấy, vợ chồng chị H, anh H1 phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, trong cách xử sự thì thiếu sự kiềm chế nên thường xảy ra bất hòa. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nhiều lần tìm cách để cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả. Vì vậy từ khoảng tháng 6/2024 đến nay hai vợ chồng sống ly thân không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Mặt khác, bản thân anh H1 cũng không có thiện chí nhằm cải thiện quan hệ hôn nhân của hai anh chị, cụ thể là từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay, đã nhiều lần Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh H1 đều vắng mặt không có lý do. Do đó, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H, xử cho chị Nguyễn Thị H và anh Văn Minh H1 được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
[3] Về con chung: chị H và anh H1 có hai con chung là Văn Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 04/12/2022 và Văn Nguyễn An N, sinh ngày 06/5/2024. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi cả hai con chung. Xét Thấy từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay cháu Đ và cháu N vẫn do chị H chăm sóc nuôi dưỡng. Hiện nay cả hai cháu còn nhỏ và đều dưới 36 tháng tuổi. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện học tập và sinh hoạt ổn định cho các cháu, căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình, giao cả hai con chung là Văn Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 04/12/2022 và Văn Nguyễn An N, sinh ngày 06/5/2024 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị H yêu cầu anh Văn Minh H1 cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng. Xét thấy, qua xác minh thực tế tại địa phương thì được biết anh H1 làm nghề tự do và việc nuôi dưỡng, chăm sóc con là trách nhiệm chung của vợ chồng nên để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con khi bố mẹ ly hôn cũng như thể hiện trách nhiệm làm cha của anh H1 đối với các con. Tuy nhiên, mức cấp dưỡng nuôi con phải xem xét đến khả năng cấp dưỡng của anh H1, hiện nay anh H1 làm nghề tự do thu nhập không ổn định. Vì vậy, căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần buộc anh Văn Minh H1 phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 2.500.000đồng/tháng/hai cháu là phù hợp. Thời gian cấp dưỡng nuôi con được tính kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị H và anh Văn Minh H1 cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Văn Minh H1 phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; Điều 235; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, xử cho chị Nguyễn Thị H và anh Văn Minh H1 được ly hôn.
- Về con chung: giao cả hai con chung là Văn Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 04/12/2022 và Văn Nguyễn An N, sinh ngày 06/5/2024 cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Văn Minh H1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 2.500.000đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005368 ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí. Anh Văn Minh H1 phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
Chị Nguyễn Thị H và anh Văn Minh H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (19/6/2025), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sơn Linh |
Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án ly hôn giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Văn Minh H
