TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18-11-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị Q vÀ Đ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Long.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Xuân Thuỳ
- Ông Cao Văn Thịnh
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Vi Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên;
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 02/2025/TLST-HNGĐ ngày 09/7/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/11/2025 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm Q, sinh năm 2003; Nơi đăng ký hộ khẩu; xóm A, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định cũ nay là xã X, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt, chị Q xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Trần Đình Đ, sinh năm 2000; Nơi đăng ký hộ khẩu; xóm A, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định cũ nay là xã X, tỉnh Ninh Bình; hiện đang chấp hành án phạt tù tại đội 4 phân trại số 2, Trại giam X, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh nay là xã X, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt; anh Đ xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm Q trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Đình Đ tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định nay là xã H, tỉnh Ninh Bình đăng ký kết hôn vào ngày 01/11/2022. Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc vui vẻ và sinh được một con trai. Năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh Đức S vào tệ nạn xã hội và phải đi chấp hành án phạt tù. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm hạnh phúc đã tan vỡ, chị không muốn kéo dài cuộc hôn nhân nữa nên nguyện vọng của chị là được xin ly hôn anh Trần Đinh Đ1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Trần Minh S1, sinh ngày 11/10/2023; hiện con đang ở với chị, khi ly hôn chị nhận nuôi con và không yêu cầu anh Đ1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Toà án xem xét
Anh Trần Đình Đ trình bày;
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Diễm Q tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân và đăng kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định nay là xã H, tỉnh Ninh Bình vào ngày 01/11/2022. Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống hoà thuận gần được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh vi phạm pháp luật phải đi chấp hành án. Đến nay vợ chồng không còn tình cảm, mẫu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, chị Nguyễn Thị Diễm Q xin ly hôn anh hoàn toàn nhất trí.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên là Trần Minh S1, sinh ngày 11/10/2023; hiện con đang ở với chị Q, khi ly hôn anh nhất trí để chị Q nuôi con và anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, và công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan kinh tế với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Đ đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và xin được xét xử vắng mặt.
Kết quả thu thập chứng cứ tại UBND xã X
Chị Nguyễn Thị Diễm Q và anh Trần Đình Đ là người có nơi cư trú tại xã X.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm Q và anh Trần Đình Đ tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã U cũ nay là xã H, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 01/11/2022. Chị Q và anh Đ mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Ngoài ra, anh Đức S vào tệ nạn xã hội và phải đi chấp hành hình phạt tù. Chị Q xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, có níu kéo cũng không mang lại hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ. Căn cứ vào lời trình bày của chị Q cũng như thực trạng hôn nhân của các bên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho chị Q được ly hôn anh Đ.
- Về con chung: Chị Q và anh Đ có 01 con chung tên là Trần Minh S1, sinh ngày 11/10/2023, hiện nay cháu S1 đang ở cùng với chị Q tại thị trấn Y cũ nay là xã H, tỉnh Ninh Bình. Khi ly hôn chị Q nhận nuôi cháu S1, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Q đang làm việc cho công ty M thu nhập mỗi tháng 8 triệu đồng. Căn cứ vào lời trình bày của chị Q cũng như để bảo đảm lợi ích mọi mặt cho con chung chưa thành niên, đề nghị Tòa án giao cháu S1 cho chị Q tiếp tục nuôi dưỡng và anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
- Về tài sản, công nợ: Chị Q không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Chị Q và anh Đ không nợ lần gì với cơ sở, còn nợ cá nhân nào thì địa phương không nắm được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật,
Nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Diễm Q và anh Trần Đình Đ.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Diễm Q tiếp tục trực tiếp, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là là Trần Minh S1, sinh ngày 11/10/2023. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Q không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con; anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành theo quy định của pháp luật.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm Q và anh Trần Đình Đ đến với nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp. Sau khi lấy nhau chị Q và anh Đ sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ mắc vào tệ nạn xã hội dẫn đến anh Đ phải đi chấp hành án phạt tù. Nay chị Q và anh Đ đều xác định vợ chồng không tình cảm, hạnh phúc đã tan vỡ, chị Q xin ly hôn anh Đ nhất trí. Xét thấy, mẫu thuẫn giữa chị Q và anh Đ mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị Q xin ly hôn anh Đ nhất trí là phù hợp nên HĐXX sẽ chấp nhận yêu cầu của chị Q là xử cho ly hôn với anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung: Chị Q và anh Đ có 01 con chung tên là Trần Minh S1, sinh ngày 11/10/2023; hiện con đang với chị Q. Nay ly hôn chị Q và anh Đ thống nhất là chị Q tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị Q và anh Đ đã thống nhất việc chăm sóc, nuôi dương con nên HĐXX sẽ giao cho chị Q tiếp tục nuôi con S1 và ghi nhận sự tự nguyện của chị Q không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp và theo quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- [4] Về tài sản: Chị Q và anh Đ không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp.
- [5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Diễm Q và anh Trần Đình Đ.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Diễm Q tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung tên là Trần Minh S1, sinh ngày 11/10/2023. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Diễm Q không yêu cầu anh Trần Đình Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Trần Đình Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
- Về tài sản: Chị Nguyễn Thị Diễm Q và anh Trần Đình Đ không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diễm Q phải nộp án phí ly hôn là 300.000₫ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0000303 ngày 09/7/2025 Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; chị Nguyễn Thị Diễm Q đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Long |
Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
