Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 – 06 – 2025

“Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Ngọc Hữu.

2. Bà Phan Thị Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 387/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 45/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thông Thị N, sinh năm 1983. (Vắng mặt, nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Thông T, sinh năm 1979; (Vắng mặt không có lý do)

Cùng nơi cư trú: khu phố C, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Thông Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thông Thị N và anh Thông T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 1999, đến năm 2004 thì đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào năm 2004. Sau khi chung sống và kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian đầu thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do chồng rượu chè, ăn chơi, không quan chăm sóc cho gia đình và vợ con, không những thế sau khi say rượu anh T còn quậy phá, chửi bới chị N một cách vô cớ. Mặc dù đã được gia đình và các con khuyên ngăn thay đổi tính tình nhưng anh T không thay đổi. Không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa, vợ chồng đã không còn chung sống từ Tết nguyên đán năm 2024 cho đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không còn liên lạc, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, phận ai người đó sống. Hiện nay, chị N xác định không còn yêu thương hay còn bất cứ tình cảm gì đối với anh T nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì thế chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị N và anh T có 03 người con chung tên Thông N1, sinh năm 1999; Thông Nhất, sinh năm 2003 và Thông Thị Ý N2, sinh ngày 14/01/2013. Hiện nay, cháu N1 và cháu N3 đã thành niên, có khả năng tự lao động chị N không có yêu cầu gì. Khi ly hôn chị N yêu cầu Tòa án giao cháu N2 cho chị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị N không có yêu cầu nào khác trong vụ án.

[2]. Theo biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Thông T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thông Thị N và anh Thông T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 1999, đến năm 2004 thì đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào năm 2004. Sau khi chung sống và kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cùng nhau làm ăn chăm lo cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, cách đây khoảng gần 1 năm thì hai vợ chồng có xảy ra xích mích, mâu thuẫn trong gia đình, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, hai bên có lời qua tiếng lại với nhau, anh T bị bệnh không ai chăm sóc nên bỏ về nhà cha mẹ tại khu phố C, thị trấn L để ở và hiện nay cả hai đã ly thân. Đối với yêu cầu ly hôn của chị N thì anh T không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị N và anh T có 03 người con chung tên Thông N1, sinh năm 1999; Thông Nhất, sinh năm 2003 và Thông Thị Ý N2, sinh ngày 14/01/2013. Hiện nay, cháu N1 và cháu N3 đã thành niên, có khả năng tự lao động anh T không có yêu cầu gì. Khi ly hôn anh T đồng ý giao cháu N2 cho chị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu giải quyết.

[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:

Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 bản sao có chứng thực Căn cước công dân mang tên Thông Thị N; 01 bản sao có chứng thực Căn cước công dân mang tên Thông Thạch; 01 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn số 62, quyển số 01/004 ngày 01/6/2004 của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Thông Nhát; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Thông Nhất; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Thông Thị Ý N2.

Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương thị trấn Lạc Tánh về quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị Thông Thị N và anh Thông T lập Biên bản xác minh.

[5]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận tòa bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T1; xử cho chị Thông Thị N được ly hôn với anh Thông T; giao cháu Thông Thị Ý N2 cho chị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình; buộc chị N phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe các đương sự trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Thông Thị N vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Thông T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Thông Thị N, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; bị đơn nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về yêu cầu giải quyết ly hôn của nguyên đơn chị Thông Thị N, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào 01 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn số 62, quyển số 01/004 ngày 01/6/2004 của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị Thông Thị N đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị Thông Thị N và bị đơn anh Thông T; có đủ cơ sở xác định: chị Thông Thị N và anh Thông T tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp. Vì vậy, chị N có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Nguyên đơn chị Thông Thị N xác định: Sau khi chung sống và kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian đầu thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do chồng rượu chè, ăn chơi, không quan chăm sóc cho gia đình và vợ con, không những thế sau khi say rượu anh T còn quậy phá, chửi bới chị N một cách vô cớ. Mặc dù đã được gia đình và các con khuyên ngăn thay đổi tính tình nhưng anh T không thay đổi. Không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa, vợ chồng đã không còn chung sống từ Tết nguyên đán năm 2024 cho đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không còn liên lạc, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, phận ai người đó sống. Hiện nay, chị N xác định không còn yêu thương hay còn bất cứ tình cảm gì đối với anh T nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì thế chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T. Anh T thừa nhận cách đây khoảng gần 1 năm thì hai vợ chồng có xảy ra xích mích, mâu thuẫn trong gia đình, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, hai bên có lời qua tiếng lại với nhau, anh T bị bệnh không ai chăm sóc nên bỏ về nhà cha mẹ tại khu phố C, thị trấn L để ở và hiện nay cả hai đã ly thân.

Xét thấy, tại biên bản xác minh địa phương thị trấn L, huyện T cũng đã cung cấp thông tin: Mâu thuẫn của chị N và anh T xảy ra đã lâu, nguyên nhân do anh T thường xuyên rượu chè, nhậu nhẹt say xĩn về nhà thì chửi mắng vợ con không lo làm ăn chăm lo gia đình, dẫn đến cả hai xích mích, cải vả. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng chị N cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ, anh Đ cũng không tham gia tố tụng, vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ cho cải hai được.

Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị N và anh T đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị N yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận, xử cho chị N được ly hôn với anh T.

[3.2] Về con chung:

Căn cứ vào 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Thông Nhát; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Thông Nhất; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Thông Thị Ý N2 và lời khai phù hợp của nguyên đơn và bị đơn; có đủ cơ sở xác định được: Chị N và anh T có 03 người con chung tên Thông N1, sinh năm 1999; Thông Nhất, sinh năm 2003 và Thông Thị Ý N2, sinh ngày 14/01/2013. Hiện nay, cháu N1 và cháu N3 đã thành niên, có khả năng tự lao động anh T không có yêu cầu gì.

Khi ly hôn chị N và anh T đều yêu cầu giao cháu N2 cho chị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Cháu N2 cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị N

Xét thấy: Cần giao cho chị Thông Thị N có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Thông Thị Ý N2, sinh ngày 14/01/2013 cho đến khi thành niên; anh Thông T không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Chị Thông Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Cần căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Xử buộc chị Thông Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều 227, 228, 244, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Thông Thị N:

Về việc ly hôn: Chị Thông Thị N được ly hôn với anh Thông T.

Về việc nuôi con: Giao cho chị Thông Thị N có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên là Thông Thị Ý N2, sinh ngày 14/01/2013 cho đến khi thành niên;

Anh Thông T không phải cấp dưỡng nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình.

[2]. Về án phí: Buộc chị Thông Thị N phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.00đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai số 0006204 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Thông Thị N đã nộp đủ án phí.

[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Lạc Tánh;
  • - CCTHADS huyện Tánh Linh;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Mạnh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger