Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15 - 4- 2025
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân; ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 02 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 46/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà 44/2025/QĐST-HNGĐ ngày 01/4/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Cao Thị H, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Slovakia. Có đơn xin vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Cao Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị H và anh Trần Văn Q tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 27/11/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn chị H và anh Q chung sống hạnh phúc với nhau. Đến năm 2018 anh Q đi lao động tại nước ngoài và hiện nay đã về Việt Nam. Năm 2020 chị H đi lao động tại Slovakia cho đến nay. Năm 2020 chị H và anh Q xảy ra mâu thuẫn đến năm 2022 vợ chồng đã níu kéo để đoàn tụ nhưng không thành và từ đó vợ chồng sống ly thân, không còn liên lạc với nhau. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng không có con, kinh tế khó khăn, mỗi người một nơi, không tìm thấy tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, cãi cọ nhau nên dẫn đến không còn quan tâm cũng như không còn tình cảm với nhau.

Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị H xin được ly hôn với anh Trần Văn Q.

- Về con chung: Chị H và anh Q không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án đến bị đơn anh Trần Văn Q và trực tiếp về địa phương nơi cư trú của anh Q để làm việc nhưng anh Q không có mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 147; Điểu 227; Điều 228; Điều 273; Điều 469; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 123 Luật Hôn nhân gia đình. Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Cao Thị H. Xử cho chị Cao Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Q.

Về con chung: Chị H và anh Q không có con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Cao Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Chị Cao Thị H hiện đang lao động tại Slovakia. Tại văn bản số 104/QLXNC-Đ1 ngày 07/02/2025 của Phòng Q1 Công an tỉnh H thể hiện. Chị Cao Thị H, sinh ngày 12/5/1993 nơi thường trú: Xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh ngày 06/8/2020 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án nhưng bị đơn không có ý kiến và vắng mặt không có lý do và đây là phiên toà mở lần thứ hai vì vậy căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Cao Thị H và anh Trần Văn Q theo quy định.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị H và anh Trần Văn Q tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29 do Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 27/11/2014 nên hôn nhân giữa chị H và anh Q là hôn nhân hợp pháp. Chị H cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do vợ chồng không có con, kinh tế khó khăn, mỗi người một nơi, không tìm thấy tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, cãi cọ nhau nên dẫn đến không còn quan tâm cũng như không còn tình cảm với nhau. Chị H anh và anh Q đã ly thân từ năm 2022 đến nay.

Chị H và anh Q là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị H và anh Q xảy ra mâu thuẫn nhưng giữa chị H và anh Q không có thiện chí hàn gắn. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị H ly hôn với anh Q.

[2.2] Về con chung: Chị H và anh Q không có con chung nên không xem xét giải quyết

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết

[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 147; Điểu 227; Điều 228; Điều 273; Điều 469; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 123 Luật Hôn nhân gia đình. Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị H, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị H được ly hôn anh Trần Văn Q.
  2. Về con chung: Chị Cao Thị H và anh Trần Văn Q không có con chung nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Cao Thị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Cao Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí toà án số [...] ngày 06/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Khánh Vĩnh Yên, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hồ Đức Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Cao Thị Hiền và anh Trần Văn Quảng tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 27/11/2014 tại Uỷ ban nhân dân xã Yên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn chị Hiền và anh Quảng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến năm 2018 anh Quảng đi lao động tại nước ngoài và hiện nay đã về Việt Nam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger