Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-6-2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lâm Thành Thông.
  2. Bà Trần Thị Kim Mỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 121/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 140/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2025.

Giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Cao Thủy T, sinh năm 1993 (xin vắng mặt);
  • Địa chỉ: B, khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: 9, ấp A, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 27/11/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Cao Thủy T trình bày: Bà T và ông L do tự tìm hiểu quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2011, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B vào năm 2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc khoảng thời gian đầu nhưng thời gian sau đó đến năm 2014 đã phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không còn phù hợp nhau, có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng năm 2014 cho đến nay. Nay do tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L. Về con chung: thời gian sống chung, bà và ông L có với nhau 01 con chung là cháu Nguyễn Khánh N, sinh ngày 08/7/2010, hiện đang sống cùng bà T. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có.

Bị đơn ông Nguyễn Văn L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Cao Thủy T; về con chung: sau khi ly hôn giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: bà T khai không có nên không xem xét giải quyết; tuyên án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Cao Thủy T khởi kiện ông Nguyễn Văn L yêu cầu ly hôn và nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn L là bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Cao Thủy T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn L vắng mặt tại phiên tòa không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông L là phù hợp.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

bà Cao Thủy T và ông Đặng Văn L1 trên cơ sở quen biết nhau trước nên cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B vào năm 2011. Xét thấy, hôn nhân của bà T và ông L1 đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, bà T và ông L1 có thời gian sống hạnh phúc và có với nhau 01 con chung nhưng vì những mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình mà đã dẫn đến việc bà T xin ly hôn. Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà T cho rằng nguyên nhân mất hạnh phúc là do vợ chồng tính tình không còn phù hợp nhau, có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống; bà và ông L1 đã ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay. Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mời bà T và ông L1 đến Tòa án nhiều lần để tiến hành hòa giải hôn nhân của ông bà nhưng ông L1 vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ ông L1 không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng với bà T. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: bà T và ông L1 là vợ chồng nhưng ông bà không quan tâm, giúp đỡ nhau để tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt mà ông bà lại bỏ mặc nhau, sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay nên ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp.

[3.2] Về con chung:

thời gian sống chung, bà T và ông L1 có với nhau 01 con chung là cháu Nguyễn Khánh N, sinh ngày 08/7/2010, hiện đang sống cùng bà T. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: cháu N đang sống chung với bà T. Đồng thời, tại biên bản lấy ý kiến con chung ngày 17/4/2025, cháu N có nguyện vọng được sống với mẹ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến tranh chấp về nuôi con chung với bà T. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho sự phát triển tốt về thể chất, sự phát triển tốt về tinh thần và bảo đảm việc học hành cho cháu N nên Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà T được trực tiếp nuôi là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Việc bà T không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của bà nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung:

Bà T trình bày là không có. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, ông L1 cũng không có văn bản trình bày là ông và bà T có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Xét thấy quan điểm

của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà T phải chịu do bà T yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thủy T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn L về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cụ thể tuyên:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thủy T được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
    2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Khánh N, sinh ngày: 08/7/2010 cho bà Cao Thủy T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà Cao Thủy T không yêu cầu ông Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con.

      Ông Nguyễn Văn L được quyền đến thăm chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Cao Thủy T trình bày là không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Cao Thủy T phải nộp nhưng được khấu trừ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008030 ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Bà Cao Thủy T đã thực hiện xong.
  3. Về quyền kháng cáo: Bà Cao Thủy T và ông Nguyễn Văn L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA
  • TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND thành phố Bến Tre;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Tre;
  • - UBND phường Phú Tân, thành phố Bến Tre;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (HS, VP).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

đã ký

Võ Thị Cẩm Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà T và ông L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger