Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 6 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duy Nhân

Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Đặng Minh Lý

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh T – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 215/2025/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm 1972; nơi cư trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số A đường B, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số B đường B, khu dân cư H, Khu phố G, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Trần Văn S trình bày: Ông S và bà Nguyễn Thị Ngọc N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào năm năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2004 ngày 18/6/2004.

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận nhưng sau đó cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Ông S và bà Nguyễn Thị Ngọc N đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Cả hai không còn chung sống từ năm 2011 cho đến nay. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên ông Trần Văn S yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc N. Ông S và bà Nguyễn Thị Ngọc N có 02 con chung tên Trần Nhật L, sinh ngày 06/12/2004 và Trần Nhật H, sinh ngày 21/3/2011. Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Ngọc N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Nhật H. Cháu Trần Nhật L đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng: Ông Trần Văn S tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Nhật H 6.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập tham gia hòa giải, tham gia phiên họp và tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến về vụ kiện cho Tòa án.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà N và ông S có mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng là đúng thực tế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn về con chung và tài sản chung.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N hiện đang cư trú tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một;

Nguyên đơn ông Trần Văn S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

[2] Về nội dung: Ông Trần Văn S bà Nguyễn Thị Ngọc N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2004 ngày 18/6/2004 nên hôn nhân giữa hai người là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Quá trình chung sống, ông Trần Văn S xác định vợ chồng luôn bất đồng về quan điểm sống dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau; vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; tình cảm vợ chồng không còn, qua xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương xác định ông S và bà N đã không còn sống chung từ năm 2011 cho đến khi ông S nộp đơn khởi kiện. Quá trình tố tụng, bà N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng bà N vẫn vắng mặt không có lý do và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai cho thấy bà N không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông S yêu cầu được ly hôn với bà N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

[4] Về con chung: Ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị Ngọc N có 02 con chung tên Trần Nhật L, sinh ngày 06/12/2004 và Trần Nhật H, sinh ngày 21/3/2011. Sau ly hôn, ông S đồng ý giao con chung là Trần Nhật H cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét thấy, cháu H hiện đang sinh sống ổn định cùng với bà N nên đề nghị của ông S là có cơ sở, phù hợp với điều kiện học tập và sinh hoạt hiện tại của cháu H. Đồng thời, việc ông S tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Nhật H 6.000.000đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với con chung là cháu Trần Nhật L đã trên 18 tuổi, ông S không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 238; Điều 266 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn S đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”;

Về hôn nhân: ông Trần Văn S được ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc N.

(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 70/2004 do Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp ngày 18/6/2004)

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Trần Nhật H, sinh ngày 21/3/2011.Cháu Trần Nhật L đã trên 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn S về việc cấp dưỡng nuôi con chung là Trần Nhật H 6.000.000đồng/tháng (Sáu triệu đồng mỗi tháng) cho đến khi cháu Trần Nhật H đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.

2. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Văn S phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001558 ngày 27/3/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Về án phí cấp dưỡng: Ông Trần Văn S phải nộp số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - UBND phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Duy Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Trần Văn S được ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger