Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST;

Ngày: 09/6/2025;

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Quang Chính.
  2. Ông Phạm Ngọc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 54/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1993 (Có mặt);
  • - Bị đơn: Ông Hồ Đăng H, sinh năm 1992 (Vắng mặt);
  • Cùng cư trú: Khu phố C, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Trịnh Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hồ Đăng H chung sống từ năm 2010 và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo số 312, ngày 25/12/2015; Việc hai bên kết hôn và chung sống là hoàn toàn tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi đầy đủ; Sau khi kết hôn thì vợ chồng về chung sống tại Khu phố C, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Vợ chồng chung sống không hạnh phúc do không hợp nhau, ông H là người gia trưởng và chỉ ham ăn chơi hưởng thụ chứ không quan tâm chăm lo cho gia đình vì vậy vợ chồng nhiều lần xảy ra cãi nhau, ông H còn nhiều lần dùng bạo lực với bà và còn dọa giết bà; Bà đã cố gắng khuyên giải chồng nhưng không cải thiện được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Do mâu thuẫn gia đình nên từ năm 2019 bà đã dọn ra sống riêng còn ông H và 02 con thì vẫn ở lại địa chỉ cũ; Từ khi vợ chồng sống riêng thì mâu thuẫn không giảm mà ngày càng gia tăng, hai bên không còn quan tâm nhau mà tạo lập cuộc sống riêng.

Hôn nhân của bà và ông H đến nay đã thật sự trầm trọng, không còn cơ hội đoàn tụ và hôn nhân không có tương lai nên bà yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Hồ Thị Anh T1, sinh ngày: 21/02/2010 và Hồ Thị Quỳnh N, sinh ngày 15/6/2014. Từ năm 2019 bà dọn ra sống riêng và ông H đã nuôi dưỡng cả 02 con cho đến nay nên nay bà yêu cầu giao cả 02 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà xin không cấp dưỡng nuôi con do đang khó khăn về kinh tế.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trịnh Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Hồ Đăng H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa nhưng không đến nên không có lời trình bày.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Về thủ tục tố tụng:
  • Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

    Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ nhiều lần. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trịnh Thị T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn ông Hồ Đăng H; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định: Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Hồ Đăng H có địa chỉ cư trú tại Khu phố C, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Hồ Đăng H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị T và ông Hồ Đăng H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận tại số: 312, ngày 25/12/2015; Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà T trình bày thì vợ chồng chung sống không hạnh phúc do không hợp, ông H là người gia trưởng và chỉ ham ăn chơi hưởng thụ chứ không quan tâm chăm lo cho gia đình vì vậy vợ chồng nhiều lần xảy ra cãi nhau, ông H còn nhiều lần dùng bạo lực với bà và còn dọa giết bà. Do mâu thuẫn gia tăng và lo sợ cho sự an toàn của bản thân nên năm 2019 bà ra sống riêng, còn ông H và 02 con thì vẫn ở lại địa chỉ cũ ở Khu phố C, thị trấn P. Từ khi vợ chồng sống riêng thì mâu thuẫn không giảm mà lại gia tăng, hai bên không còn quan tâm nhau và tự tạo lập cuộc sống riêng.

Bị đơn ông Hồ Đăng H không đến Tòa làm việc coi như từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình và cho thấy ông H không có thiện chí hàn gắn vợ chồng đồng thời chứng tỏ lời trình bày của bà T là đúng sự thật. Như vậy cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Thực tế này phù hợp với nội dung “Biên bản xác minh” ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước tại Trưởng ban Q, thị trấn P xác nhận có biết về mâu thuẫn vợ chồng ông H bà T vì vậy, việc bà Trịnh Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Hồ Đăng H là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà Trịnh Thị T và ông Hồ Đăng H có 02 con chung tên Hồ Thị Anh T1, sinh ngày: 21/02/2010 và Hồ Thị Quỳnh N, sinh ngày 15/6/2014; Bà T yêu cầu giao cả 02 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng;

Tại “Biên bản xác minh” ngày 10/3/2025 Ban Q, thị Trấn P xác nhận: Ông H và bà T đã sống riêng từ lâu, con chung luôn ở với ông H, các cháu được chăm sóc giáo dục tốt, không ồn ào, không bạo lực; Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/5/2025 mẹ đẻ của ông H là bà Phạm Thị N1 xác nhận: Từ khi bà T bỏ đi thì các cháu Hồ Thị Anh T1 và cháu Hồ Thị Quỳnh N sống chung trong một nhà cùng với bà N1 và ông H do bà N1 và ông H trực tiếp nuôi dưỡng, các cháu được chăm sóc giáo dục tốt, phát triển bình thường.

Xét thấy: Mặc dù ông H không trình bày ý kiến nhưng khẳng định được cả 02 con chung từ trước đến nay vẫn ở với ông H do ông H chăm sóc, nuôi dưỡng, có thêm sự phụ giúp của mẹ ông H là bà Phạm Thị N1 phụ giúp nên cuộc sống của các cháu ổn định, phát triển tốt, không ồn ào và không có bạo lực; Thực tế này phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu tại biên bản lấy lời khai ngày 05/5/2025 rằng các cháu muốn được ở với cha khi cha mẹ ly hôn vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con chung cho ông Hồ Đăng H tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Trịnh Thị T không cấp dưỡng nuôi con chung do ông Hồ Đăng H không yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bà Trịnh Thị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Khoản 1 Điều 273; Điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị T được ly hôn ông Hồ Đăng H.
  2. Về con chung: Giao cho ông Hồ Đăng H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Hồ Thị Anh T1, sinh ngày: 21/02/2010 và Hồ Thị Quỳnh N, sinh ngày 15/6/2014.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trịnh Thị T không cấp dưỡng nuôi con chung do ông Hồ Đăng H không yêu cầu.
  4. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  5. Về án phí: Bà Trịnh Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0005560, ngày 14/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Bà Trịnh Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/6/2025), vắng mặt bị đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - UBND TT. Phước Dân (2015);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đăng Cốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị Tiên - Hồ Đăng Hủ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger