Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06-6-2025

V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thanh Hà
  2. Ông Võ Tự Trị

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Dũng, Thẩm tra viên chính

Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ

Trong ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Tố N, sinh năm 2004.

    Địa chỉ: khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

  2. Bị đơn: Anh Mai Văn M, sinh năm 1999.

    Địa chỉ: Số A khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/12/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Phan Thị Tố N trình bày:

Vào năm 2022, anh M và chị N, hai người quen biết nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, sau đó có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Trong thời gian sống chung hai người khá hạnh phúc, nhưng đến khoảng tháng 6/2024 thì đôi bên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, qua đó hai người đã giành thời gian hàn gắn nhưng không kết quả. Từ đó, hai người đã ly thân cho đến nay. Nay, chị N nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa hai người không hạnh phúc, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Có 01(một) người, tên Mai Ngọc H (nữ), sinh ngày 05/10/2021 đang sống chung với anh M từ khi chị ly thân đến nay. Khi khởi kiện ban đầu, chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện, theo đó chị N đồng ý cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng con đến trưởng thành, chị N tự nguyện cấp dưỡng nuôi dưỡng con mỗi tháng 1.200.000 đồng cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi.

Tài sản chung và nợ chung: Chị N khai nhận không có, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật: Chị Phan Thị Tố N và anh Mai Văn M chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay, chị N có đơn yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn và giải quyết nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là "Tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo quy định tại Điều 53 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về tố tụng: Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, về phía bị đơn Tòa án đã triệu tập đến tham dự phiên tòa vào các ngày 20/5/2025 và 06/6/2025 nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung được quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự được tòa án triệu tập đến tòa nhiều lần để hòa giải, động viên vợ chồng bỏ qua mâu thuẫn, để xây dựng lại hạnh phúc gia đình. Thế nhưng, bị đơn vẫn vắng mặt không lý do, về phía nguyên đơn cũng có đơn xin xét xử vắng mặt. Từ đó cho thấy các bên đương sự không còn thiện chí để gặp gỡ chia sẻ, hòa giải với nhau nhằm đoàn tụ lại gia đình. Mặt khác, theo như chị N trình bày, trong thời gian qua, chị và anh M đã giành thời gian để hàn gắn lại nhưng không tìm được tiếng nói chung, và hiện tại hai người đã ly thân khá lâu tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân của đôi bên không đạt được là có căn cứ xem xét chấp nhận.

[3]. Về con chung: Chị N khai nhận có 01(một) người, tên Mai Ngọc H (nữ), sinh ngày 05/10/2021 đang sống chung với anh M. Theo nội dung khởi kiện ban đầu, chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện, theo đó chị N đồng ý cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng con đến trưởng thành, chị N tự nguyện cấp dưỡng nuôi dưỡng cháu mỗi tháng 1.200.000 đồng cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi. Xét đây là tự nguyện của chị N, phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án ghi nhận.

[4]. Tài sản chung và nợ chung: Chị N khai nhận không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.

[5]. Về án phí:

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 đồng, chị N chịu theo quy định của pháp luật.

- Án phí cấp dưỡng nuôi con chị N phải chịu: 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 53, 56, 80,81, 82,83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị Tố N được ly hôn với anh Mai Văn M

Về con chung: có 01(một) người, tên Mai Ngọc H (nữ), sinh ngày 05/10/2021 đang sống chung với anh M. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N, giao cháu H cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành. Chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) cho đến khi cháu H tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Dành quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho chị N theo quy định chung của pháp luật.

Tài sản chung và nợ chung: chị N khai nhận không có. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.

[2]. Về án phí:

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị N có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số 0004958 ngày 26/3/2025 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành án phí (công nhận chị N đã nộp xong)

- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

[3]. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, các đương sự được quyền kháng cáo bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND quận Ô Môn;
  • - Thi hành án quận Ô Môn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Mẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger