Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 58/2025/HNGĐ-ST

Ngày 05 tháng 6 năm 2025

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Minh và ông Phạm Quang Hưng

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 84/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Minh D, sinh năm 1995; hộ khẩu thường trú: Tổ H, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang cư trú và lao động tại Nhật Bản.

- Bị đơn: Chị Đào Thị Thanh P, sinh năm 1997; nơi cư trú: Số nhà A, ngõ B, đường L, tổ I (trước đây là tổ A), phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(anh D và chị P đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn - anh Trần Minh D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đào Thanh P tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 09/6/2023 tại UBND phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, anh và chị P chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi với nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Đến tháng 6 năm 2024, anh sang Nhật Bản sinh sống và làm việc, kể từ thời điểm đó đến nay anh và chị P ly thân mỗi người một nơi và không còn tình cảm với nhau. Nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Anh đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn chị P.

- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Trần Bảo T, sinh ngày 21/11/2023. Hiện cháu T đang ở với chị P. Anh đề nghị Tòa án giao cháu T cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai đề ngày 14/5/2025, bị đơn - chị Đào Thị Thanh P trình bày:

Về thời gian, quá trình kết hôn, chung sống, mâu thuẫn và con chung như anh D trình bày là đúng. Nay chị cũng xác định mục đích hôn nhân không đạt được, không thể cùng nhau xây dựng hạnh phúc, vun đắp cho gia đình nên đồng ý ly hôn anh D. Hiện cháu T đang ở với chị và chị đồng ý với mức cấp dưỡng hàng tháng với số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, anh D đang cư trú và lao động tại Nhật Bản nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ. Vì vậy, không có sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[1.3] Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục chung, anh D đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như cung cấp Bản tự khai, cung cấp các chứng cứ chứng minh. Bị đơn chị Đào Thị Thanh P đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, đã nộp Bản tự khai trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của anh D. Anh chị đều đề nghị được xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh D được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, Thành phố T, Tỉnh Thái Bình vào ngày 09/6/2023 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Anh chị đều xác nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2024, nguyên nhân do phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi, dẫn đến bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung, vợ chồng sống xa nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Khi anh D xin ly hôn, chị P cũng đồng ý ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận cho anh D ly hôn chị P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Anh chị có 01 con chung là Trần Bảo T, sinh ngày 21/11/2023. Hiện cháu đang ở cùng chị P, anh D và chị P đều đề nghị Tòa án giao con cho chị P nuôi dưỡng. Xét đề nghị của chị P, anh D là tự nguyện và hợp pháp, để bảo đảm các quyền, lợi ích và phù hợp với nguyện vọng của cháu T, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng, anh D chị P đều thống nhất mức cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi nên cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này.

[2.3] Về chia tài sản chung: Chị P và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết về tài sản.

[2.4] Về án phí: Anh Dũng phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 37, Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 147, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử cho anh Trần Minh D được ly hôn chị Đào Thị Thanh P.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Đào Thị Thanh P trực tiếp nuôi con chung Trần Bảo T, sinh ngày 21/11/2023. Anh Trần Minh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng (năm triệu đồng mỗi tháng) cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Anh Trần Minh D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định.
  3. Về chia tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Trần Minh D chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Đối trừ với số tiền 300.000 đồng anh D đã nộp tại biên lai số 0000006 ngày 16/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, anh D còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Minh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Đào Thị Thanh P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - UBND phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 58/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Trần Minh D ly hôn chị Đào Thị Thanh P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger