TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2025/DSST
Ngày: 18-6-2025
V/v tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và ông Lê Quang Chính
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Nguyễn Minh Thu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 255/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXX-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/QĐ-HPT ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần H1
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L - Chức vụ: Tổng Giám đốc - Ngân hàng thương mại cổ phần H1;
Địa chỉ: Số E N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thành Đ - Chức vụ: Chuyên viên tố tụng - Phòng Tố tụng Ngân hàng thương mại cổ phần H1 - Chi nhánh Đ2; (Giấy ủy quyền số4402/2025/UQ-TGĐ12 ngày 24 tháng 4 năm 2025) (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tầng B, B Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1981 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1988 (Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình tham gia tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần H1 (Viết tắt: Ngân hàng M) ông Lê Thành Đ trình bày:
Ngày 31/8/2021, ông Nguyễn Văn Đ1 với Ngân hàng M - Chi nhánh N có ký hợp đồng tín dụng số 31.08/2021/HĐCV-NTH để vay số tiền gốc là 400.000.000 đồng; thời hạn vay là 120 tháng; mục đích vay là vay phục vụ mục đích tiêu dùng mua sắm đồ nội thất; lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 28/02/2023 là 9,1%/năm (365 ngày), lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Trong ngày 31/8/2021, ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H đã ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng M có xác nhận của Ngân hàng M.
Ngày 27/04/2022, ông Nguyễn Văn Đ1 với Ngân hàng M - Chi nhánh N có ký hợp đồng tín dụng số 02726/2022/HĐCV/RB/2655315 để vay số tiền gốc là 400.000.000 đồng, thời hạn vay là 120 tháng, mục đích vay là vay mua BĐS tại Thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14c, địa chỉ KP12, Thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 28/10/2023 là 9,1%/năm (365 ngày). Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Trong ngày 27/04/2022, ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H đã ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng M có xác nhận của Ngân hàng M.
Để đảm bảo cho 02 vay khoản vay, ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H đã thế chấp các tài sản sau:
Tài sản 01: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 1303, tờ bản đồ số 17d tọa lạc tại thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 820762, số vào sổ cấp GCN: CS02782, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 09/07/2021, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 22/07/2021, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H.
Theo Hợp đồng thế chấp số: 31.08/2021/BĐ-NTH, số công chứng 5402, quyển số: 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/08/2021 tại Phòng C, tỉnh Ninh Thuận ký giữa ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H với Ngân hàng M - Chi nhánh N. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Tài sản 02: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14c tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 945482, số vào sổ cấp GCN: CS10158, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 23/02/2022, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 25/04/2022, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H.
Theo Hợp đồng thế chấp số: 02726/2022/BĐ-NT, số công chứng 3051, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/04/2022 tại Phòng C, tỉnh Ninh Thuận ký giữa ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H với Ngân hàng M – Chi nhánh N. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Tính đến nay, toàn bộ nợ vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên đã quá hạn, nhưng ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H không chịu thanh toán, Ngân hàng M cũng đã nhiều lần liên hệ nhắc nhở ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H, nhưng ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do vậy, ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H đã vi phạm hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng M về việc trả nợ.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H phải trả toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 18-6-2025 số tiền gốc 638.200.016 đồng và số tiền lãi 117.713.695 đồng và tiền lãi quá hạn là 4.913.170 đồng. Tổng cộng: 760.826.881 đồng cho Ngân hàng M. Kể từ ngày tiếp theo, buộc ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H phải tiếp tục chịu tiền lãi phạt và lãi phạt của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, tương ứng với thời gian chậm thanh toán theo mức lãi suất quá hạn và lãi phạt đã thỏa thuận trọng hợp đồng tín dụng, cho đến khi ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng M. Và tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất đã ký kết với Ngân hàng M.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay bị đơn ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày như sau:
Ngày 31/8/2021, ông với Ngân hàng M - Chi nhánh N có ký hợp đồng tín dụng số 31.08/2021/HĐCV-NTH để vay số tiền gốc là 400.000.000 đồng; thời hạn vay là 120 tháng; mục đích vay là vay phục vụ mục đích tiêu dùng mua sắm đồ nội thất; lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 28/02/2023 là 9,1%/năm (365 ngày), lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Trong ngày 31/8/2021, ông và vợ ông là bà Lê Thị Hồng H đã ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng M có xác nhận của Ngân hàng M.
Ngày 27/04/2022, ông với Ngân hàng M - Chi nhánh N có ký hợp đồng tín dụng số 02726/2022/HĐCV/RB/2655315 để vay số tiền gốc là 400.000.000 đồng, thời hạn vay là 120 tháng, mục đích vay là vay mua BĐS tại Thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14c, địa chỉ KP12, Thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 28/10/2023 là 9,1%/năm (365 ngày). Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Trong ngày 27/04/2022, ông và vợ ông là bà Lê Thị Hồng H đã ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng M có xác nhận của Ngân hàng M.
Để bảo đảm cho các khoản vay, ông và vợ ông là bà Lê Thị Hồng H đã dùng những tài sản sau đây để thế chấp:
Tài sản 01: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 1303, tờ bản đồ số 17d tọa lạc tại thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 820762, số vào sổ cấp GCN: CS02782, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 09/07/2021, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 22/07/2021, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H.
Theo Hợp đồng thế chấp số: 31.08/2021/BĐ-NTH, số công chứng 5402, quyển số: 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/08/2021 tại Phòng C, tỉnh Ninh Thuận ký giữa ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H với Ngân hàng M - Chi nhánh N. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Tài sản 02: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14c tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 945482, số vào sổ cấp GCN: CS10158, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 23/02/2022, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 25/04/2022, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H.
Theo Hợp đồng thế chấp số: 02726/2022/BĐ-NT, số công chứng 3051, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/04/2022 tại Phòng C, tỉnh Ninh Thuận ký giữa ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H với Ngân hàng M – Chi nhánh N. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông và vợ ông là bà Lê Thị Hồng H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, dẫn đến khoản vay bị nợ quá hạn kéo dài. Mặc dù, Ngân hàng M đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần nhưng do kinh tế gặp khó khăn nên vợ chồng ông không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng M.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải trả tổng số tiền nợ (tạm tính đến ngày 18/6/2025) là 760.826.881 đồng. Trong đó, nợ gốc: 638.200.016 đồng, nợ lãi: 117.713.695 đồng, nợ lãi quá hạn: 4.913.170 đồng thì ông đồng ý trả cho Ngân hàng. Ông đồng ý tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản đã ký kết với Ngân hàng M nêu trên.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng H trình bày như sau:
Ngày 31/8/2021, chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ1 với Ngân hàng M - Chi nhánh N có ký hợp đồng tín dụng số 31.08/2021/HĐCV-NTH để vay số tiền gốc là 400.000.000 đồng; thời hạn vay là 120 tháng; mục đích vay là vay phục vụ mục đích tiêu dùng mua sắm đồ nội thất; lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 28/02/2023 là 9,1%/năm (365 ngày), lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Trong ngày 31/8/2021, bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ1 đã ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng M có xác nhận của Ngân hàng M.
Ngày 27/04/2022, chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ1 với Ngân hàng M - Chi nhánh N có ký hợp đồng tín dụng số 02726/2022/HĐCV/RB/2655315 để vay số tiền gốc là 400.000.000 đồng, thời hạn vay là 120 tháng, mục đích vay là vay mua BĐS tại Thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14c, địa chỉ KP12, Thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 28/10/2023 là 9,1%/năm (365 ngày). Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Trong ngày 27/04/2022, bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ1 đã ký văn bản đồng thuận về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng M có xác nhận của Ngân hàng M.
Để bảo đảm cho các khoản vay, bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ1 đã dùng những tài sản sau đây để thế chấp:
Tài sản 01: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 1303, tờ bản đồ số 17d tọa lạc tại thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 820762, số vào sổ cấp GCN: CS02782, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 09/07/2021, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 22/07/2021, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H.
Theo Hợp đồng thế chấp số: 31.08/2021/BĐ-NTH, số công chứng 5402, quyển số: 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/08/2021 tại Phòng C, tỉnh Ninh Thuận ký giữa ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H với Ngân hàng M - Chi nhánh N. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Tài sản 02: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14c tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 945482, số vào sổ cấp GCN: CS10158, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 23/02/2022, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 25/04/2022, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H.
Theo Hợp đồng thế chấp số: 02726/2022/BĐ-NT, số công chứng 3051, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/04/2022 tại Phòng C, tỉnh Ninh Thuận ký giữa ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H với Ngân hàng M – Chi nhánh N. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn Đ1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, dẫn đến khoản vay bị nợ quá hạn kéo dài. Mặc dù, Ngân hàng M đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần nhưng do kinh tế gặp khó khăn nên vợ chồng bà vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng M.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà phải trả số tiền nợ (tạm tính đến ngày 13/04/2025) là 745,894,211đồng. Trong đó, nợ gốc: 638.200.016 đồng, nợ lãi: 103.933.190 đồng, nợ lãi quá hạn: 3.761.005 đồng và các khoản lãi, chi phí phát sinh kể từ ngày 13/04/2025 theo thỏa thuận tại các Hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi trả xong nợ thì bà đồng ý. Bà đồng ý tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản đã ký kết với Ngân hàng M nêu trên.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử (Hội đồng xét xử được viết tắt là HĐXX). Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi HĐXX nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Đề xuất nội dung giải quyết vụ án như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Ngân hàng M.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H phải trả toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 18-6-2025 số tiền gốc 638.200.016 đồng và số tiền lãi 117.713.695 đồng và tiền lãi quá hạn là 4.913.170 đồng. Tổng cộng: 760.826.881 đồng cho Ngân hàng M.
Kể từ ngày tiếp theo, buộc bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi phạt và lãi phạt của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, tương ứng với thời gian chậm thanh toán theo mức lãi suất quá hạn và lãi phạt đã thỏa thuận trọng hợp đồng tín dụng, cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng.
Buộc ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất đã ký kết với Ngân hàng M.
- Về án phí: Buộc Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định: Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn hiện đang cư trú tại thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin vắng mặt, bà Lê Thị Hồng H vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt nguyên đơn và bà Lê Thị Hồng H.
[3]. Về nội dung vụ án:
Ngày 31/8/2021 ông Nguyễn Văn Đ1 thực hiện hợp đồng tín dụng với Ngân hàng M, theo đó: Ngân hàng M cho ông Nguyễn Văn Đ1 vay số tiền 400.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 31.08/2021/HĐCV-NTH; thời hạn vay là 120 tháng; mục đích vay là vay phục vụ mục đích tiêu dùng mua sắm đồ nội thất; lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 28/02/2023 là 9,1%/năm (365 ngày), lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Ngân hàng đã giao đủ số tiền 400.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Đ1.
Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông Nguyễn Văn Đ1, bà Lê Thị Hồng H thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thửa đất số 1303, tờ bản đồ số 17d tọa lạc tại thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 820762, số vào sổ cấp GCN: CS02782, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 09/07/2021, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 22/07/2021 bà Lê Thị Hồng H theo hợp đồng thế chấp số 31.08/2021/BĐ-NTH, số công chứng 5402, quyển số: 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/08/2021 tại Phòng C, tỉnh Ninh Thuận và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền.
Tiếp đến vào ngày 27/4/2022 ông Nguyễn Văn Đ1 tiếp tục thực hiện hợp đồng tín dụng với Ngân hàng M, theo đó: Ngân hàng M cho ông Nguyễn Văn Đ1 vay số tiền 400.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 02726/2022/HĐCV/RB/2655315; thời hạn vay là 120 tháng, mục đích vay là vay mua BĐS tại Thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14c, địa chỉ KP12, Thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, lãi suất vay áp dụng kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày 28/10/2023 là 9,1%/năm (365 ngày). Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Ngân hàng đã giao đủ số tiền 400.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Đ1.
Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông Nguyễn Văn Đ1, bà Lê Thị Hồng H thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14c tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 945482, số vào sổ cấp GCN: CS10158, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 23/02/2022, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 25/04/2022 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền.
Xét thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, nội dung, hình thức của giao dịch phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Đất đai nên có hiệu lực pháp luật và buộc phải thực hiện.
Xét sau khi ký kết hợp đồng Ngân hàng M đã thực hiện việc giải ngân 02 lần số tiền 400.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H có biết. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng từ ngày vay đến ngày cuối cùng của thời hạn vay (26/9/2024) ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H không trả nợ gốc, lãi định kỳ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, các khoản nợ của ông Nguyễn Văn Đ1, bà Lê Thị Hồng H theo hợp đồng tín dụng là: nợ gốc: 638.200.016 đồng; tiền lãi trong hạn: 117.713.695 đồng; lãi quá hạn là 4.913.170 đồng.
Do đó, Ngân hàng M khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ và xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng 2024 nên chấp nhận.
[4]. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng M tự nguyện chịu, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[5]. Về án phí sơ thẩm:
Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn đơn số tiền tạm ứng án phí 16.036.000₫ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004156 ngày 11-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.
Buộc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải liên đới chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]. Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
+ Các điều: 26, 39, 147, 157, 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Các điều: 288, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
+ Điều 10, 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 20;
+ Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014
+ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần H1.
Buộc ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H phải liên đới trả số tiền tổng cộng 760.826.881 đồng tính đến ngày 18-6-2025 (Trong đó số tiền gốc: 638.200.016 đồng, số tiền lãi 117.713.695 đồng và tiền lãi quá hạn là 4.913.170 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 19/6/2025) ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng thương mại cổ phần H1.
Tiếp tục duy trì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liên với quyền sử dụng đất thửa đất số 1303, tờ bản đồ số 17d tọa lạc tại thôn Đ, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 820762, số vào sổ cấp GCN: CS02782, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 09/07/2021, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 22/07/2021 theo hợp đồng thế chấp số 31.08/2021/BĐ-NTH, ngày 31/08/2021 để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần H1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản để đảm bảo thu hồi nợ.
Tiếp tục duy trì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liên với quyền sử dụng đất thửa đất số 55, tờ bản đồ số 14c tọa lạc tại Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 945482, số vào sổ cấp GCN: CS10158, do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 23/02/2022, đã cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 25/04/2022 theo hợp đồng thế chấp số 02726/2022/BĐ-NT, ngày 28/04/2022 để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần H1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản để đảm bảo thu hồi nợ.
Về án phí: Hoàn trả cho nguyên đơn đơn số tiền tạm ứng án phí 16.036.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004156 ngày 11-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.
Buộc ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Lê Thị Hồng H phải liên đới chịu 34.433.07 đồng (Làm tròn số 34.433.000 đồng) án phí sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 18-6-2025); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Phước; - Các đương sự; - CCTHADS huyện Ninh Phước; - Lưu hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Bình |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Phạm Ngọc Minh Lê Quang Chính | Nguyễn Thanh B |
Bản án số 58/2025/DSST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 58/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
