|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2025/DS-ST
Ngày: 30-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Liêm
Bà Ngô Thị Mỹ Lợi
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Nguyễn Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14, ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2025/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T2 (viết tắt là Công ty J).
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Hồng T, sinh năm: 1991, chức vụ: Nhân viên (giấy ủy quyền ngày 09/4/2025).
Địa chỉ: Lầu A Tòa nhà C, 7 N, phường V, Quận C, thành phố H.
Bị đơn: Anh Trần Hữu T1, sinh năm: 1995.
Địa chỉ: Số H QL H, khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Tại phiên tòa, anh T có mặt, anh T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa anh Lê Hồng T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T2 JACCS trình bày:
Ngày 07/3/2023 công ty ký hợp đồng tín dụng số 949800003938617000 cho anh Trần Hữu T1 vay vốn 25.000.000 đồng, lãi suất 4,35%/tháng, thời hạn 15 tháng, mục đích vay mua xe máy, không thế chấp tài sản, phương thức thanh toán trả hàng tháng vào ngày 12 tây, số tiền 2.315.902 đồng (gốc 1.088.296đ, 1.215.616đ, phí quản lý khoản vay 12.000đ).
Quá trình thực hiện hợp đồng anh T1 thanh toán cho công ty từ ngày 12/4/2023 đến 12/10/2023 số tiền 13.896.000 đồng (vốn 7.935.617 đồng, lãi 5.888.383 đồng, phí quản lý khoản vay 72.000 đồng). Hiện anh T1 còn nợ công ty tạm tính đến ngày 25/12/2023 là 19.798.322 đồng (gốc 17.064.383 đồng và tạm tính đến ngày 25/12/2023 lãi 2.542.455 đồng, lãi quá hạn 143.484 đồng, phí quản lý khoản vay 48.000 đồng).
Nay công ty yêu cầu anh Trần Hữu T1 trả số tiền tạm tính đến ngày 25/12/2023 là 19.798.322 đồng (trong đó: vốn 17.064.383 đồng, lãi 2.542.455 đồng, lãi quá hạn 143.484 đồng, phí quản lý khoản vay 48.000 đồng).
Yêu cầu anh T1 tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 26/12/2023 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng số 949800003938617000 ngày 07/3/2023.
Bị đơn anh Trần Hữu T1 vắng mặt. Quá trình giải quyết ý kiến như sau:
Anh T1 có ký hợp đồng tín dụng để vay tiền của công ty T2 số tiền 25.000.000 đồng, mục đích vay để mua xe, không thế chấp tài sản, quá trình thực hiện hợp đồng anh T1 trả tiền cho công ty không đúng theo thỏa thuận, hiện anh T1 còn nợ công ty số tiền vốn và lãi 19.798.322 đồng.
Nay anh T1 đồng ý trả cho công ty T2 số tiền vốn và lãi 19.798.322 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 26/12/2023 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng số 949800003938617000 ngày 07/3/2023.
Anh T1 ý kiến do anh T1 bận đi làm không tham gia phiên tòa được, yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc anh Trần Hữu T1 trả cho công ty T2 số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 25/12/2023 là 19.798.322 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 26/12/2023 theo hợp đồng đã ký cho đến khi trả hết nợ cho công ty.
Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả nợ vay, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố S, Đ. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Quá trình giải quyết vụ án, anh T1 có ý kiến đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1. Vì vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định.
[2]. Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu của công ty T2 yêu cầu anh Trần Hữu T1 trả số tiền tạm tính đến ngày 25/12/2023 vốn, lãi là 19.798.322 đồng. Yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 26/12/2023 cho đến khi anh T1 trả hết nợ cho công ty T2 theo hợp đồng tín dụng đã ký.
[3]. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình thu thập chứng cứ công ty cung cấp hợp đồng tín dụng số 949800003938617000 ngày 07/3/2023 giữa bên cho vay là công ty T2, bên vay là anh Trần Hữu T1.
[3.1] Qua Tòa án xác minh bị đơn anh Trần Hữu T1 thừa nhận anh T1 có vay tiền của công ty, để mua xe, tính đến ngày 25/12/2013 anh T1 còn nợ công ty T2 số tiền vốn và lãi là 19.798.322 đồng, anh T1 đồng ý trả cho công ty số tiền này. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện của đương sự.
[3.2] Qua đối chiếu tài liệu chứng cứ và lời trình bày của đương sự thể hiện trong hồ sơ vụ án: Xác định anh T1 có vay tiền của công ty, quá trình thực hiện hợp đồng, anh T1 đã vi phạm hợp đồng, chưa trả vốn, lãi cho công ty như hợp đồng đã ký kết nên công ty yêu cầu anh T1 trả số tiền vốn, lãi 19.798.322 đồng; Yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 26/12/2023 cho đến khi anh T1 thanh toán xong nợ theo hợp đồng tín dụng số 949800003938617000 ngày 07/3/2023 cho công ty là có căn cứ chấp nhận.
[4] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thống nhất đề nghị về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty T2 JACCS.
Buộc anh Trần Hữu T1 trả cho công ty T2 JACCS số tiền vốn 17.064.383 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 25/12/2023 là 2.685.939 đồng, phí quản lý khoản vay 48.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 19.798.322 đồng (Mười chín triệu, bảy trăm chín mươi tám ngàn, ba trăm hai mươi hai đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 26/12/2023 theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 949800003938617000 ngày 07/3/2023 cho đến khi trả nợ xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Trần Hữu T1 phải nộp 990.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Công ty T2 JACCS số tiền tạm ứng án phí đã nộp 495.000 đồng theo biên lai số 0008227 ngày 09/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố S.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kiều |
Bản án số 58/2025/DS-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 58/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: buộc anh T phải trả số tiền vay
