TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2025/DS-ST Ngày 27-6-2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng đền bù QSD đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Hà |
| Ông Nguyễn Văn Hùng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Đất tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khuê- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đền bù quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh Q - sinh năm 1980;
Địa chỉ: Tổ I khu phố M, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt)
* Bị đơn: Công ty TNHH K (cũ: Công ty TNHH T2); Trụ sở chính: 168/75 đường D, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T- Chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên
Hộ khẩu thường trú: Đội 11 thôn Đ, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định; Chỗ ở hiện nay: C H, phường D, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- UBND huyện L, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Trụ sở: Khu phố Hoà Hội, thị trấn Đất Đỏ, huyện Long Đất, tỉnh BR-VT.
Đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Thị H – Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện
2
L (Có đơn xin vắng mặt)
- UBND thị trấn P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Trụ sở: Khu phố M, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn H1- Chức vụ: Chủ tịch UBND thị trấn P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 02 tháng 6 năm 2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Q trình bày:
Nguyên phần đất 775,5m² thuộc thửa đất 13 (cũ 646) tờ bản đồ số 28 (cũ 4) thị trấn P (cũ xã L) có nguồn gốc là do ông Q được cha là ông Nguyễn Văn T1 cho tặng riêng ông Q vào năm 2008 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 138205 do UBND huyện Đ (Nay là huyện L) cấp ngày 01/12/2008 và được chỉnh lý biến động trang 4 sang tên ông Nguyễn Thanh Q ngày 10/3/2008.
Sau khi được cho tặng thì ông Q sử dụng vào mục đích làm nhà ở và trồng trọt cây hàng năm được một thời gian thì nhà nước có chính sách đền bù đất. Mặc dù, chưa có quyết định thu hồi, đền bù đất nhưng vì tin tưởng công ty T2 nên ông Q đã nhận trước tiền tạm ứng 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng), giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) số AL 138205 cho cho Công ty giữ, có xác nhận của UBND xã L và cam kết khi nào có quyết định thu hồi đất sẽ hợp tác để giao đất cho công ty và nhận tiền theo Quyết định thu hồi.
Năm 2009, UBND tỉnh hủy bỏ quyết định thu hồi, U quyết định thu hồi đất, không còn cho Công ty T2 tiếp tục thực hiện dự án nữa và UBND xã L (nay là thị trấn P) mời Công ty đến để hủy hợp đồng đền bù giữa hai bên, giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q. Công ty T3 Tân có cử người đến cam kết thực hiện nhưng đã qua nhiều năm vẫn không thực hiện, UBND huyện và xã ở địa phương cứ hẹn ông Q chờ đợi. Nay, ông Q không chờ đợi được nữa nên mới đi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Từ khi ký giấy nhận tạm ứng tiền của công ty đến nay thì ông Q vẫn sử dụng đất, hiện nay đang trồng cây hàng năm; chưa giao cho Công ty T2 sử dụng ngày nào và công ty cũng không khai thác hoa lợi, lợi tuất gì trên đất.
Nay, ông Nguyễn Thanh Q yêu cầu hủy hợp đồng đền bù giấy tay dưới tiêu đề “Biên nhận tạm ứng tiền bồi thường” giữa Công ty T2 (nay là Công ty TNHH K) và ông Nguyễn Thanh Q lập ngày 15/10/2008. Buộc Công ty phải giao trả lại cho ông Q giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 138205 do UBND huyện Đ cấp ngày 01/02/2008 cho ông Nguyễn Văn T1, được chỉnh lý trang 4 sang tên cho ông Nguyễn Thanh Q đứng tên và ông Q đồng ý trả lại tiền tạm ứng đã nhận là 100.000.000đồng. Về chi phí tố tụng: Ông Q tự nguyện chịu toàn bộ.
3
Bị đơn- Công ty TNHH K quá trình tham gia tố tụng vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi tòa.
Ý kiến trình bày của người có quyền, nghĩa vụ liên quan – UBND huyện L (cũ huyện Đ) trình bày như sau:
Ngày 25/8/2008, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2779/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thu hồi đất đất thực hiện đầu tư dự án: Cụm C, xã L, huyện Đ. Ngày 15/10/2008, Công ty TNHH E (đại diện là Công ty TNHH T2) đã tạm ứng kinh phí bồi thường cho 6 hộ dân. Trong đó có ông Nguyễn Thanh Q với số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và đã tạm giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 138205 do UBND huyện Đ cấp ngày 01/02/2008 cho ông Nguyễn Thanh Q thể hiện tại Biên nhận tạm ứng tiền bồi thường được UBND xã L xác nhận ngày 15/10/2008. Ngày 26/02/2009, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 454/QĐ-UBND về việc thu hồi 446.234 m² đất tại xã L, huyện Đ để đầu tư xây dựng: Cụm C và hành lang đường vào Cụm C cho Công ty TNHH E (đại diện Công ty TNHH T2) có trách nhiệm chi trả trước tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Ngày 18/3/2009, UBND huyện Đ ban hành quyết định số 793/QĐ-UBND về việc thu hồi 742 m² đất của ông Nguyễn Thanh Q đang sử dụng đất tại xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 04/6/2009, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 1632/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho hộ ông Nguyễn Thanh Q để thu hồi đất giao cho Công ty TNHH E đầu tư xây dựng dự án: Cụm C, xã L, huyện Đ. Ngày 27/9/2010, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2358/QĐ-UBND về việc chấm dứt hoạt động và thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư của Công ty TNHH E. Ngày 08/12/2010, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3229/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 454/QĐ-UBND ngày 26/02/2009 UBND tỉnh B với lý do Công ty TNHH E đã chấm dứt hoạt động và thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư (tại Quyết định số 2358/QĐUBND ngày 27/9/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh B). Trên cơ sở này, ngày 24/12/2010, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 4470/QĐ-UBND về việc thu hồi, huỷ bỏ Quyết định số 793/QĐ-UBND ngày 18/3/2009 và Quyết định số 1632/QĐ-UBND ngày 04/6/2009 của UBND huyện Đ. Sau khi bị chấm dứt hoạt động và thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư, Công ty TNHH E vẫn giữ 06 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 06 hộ dân (trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 138205 do UBND huyện Đ cấp ngày 01/02/2008 cho ông Nguyễn Thanh Q) mà không giao trả lại mặc dù UBND huyện đã nhiều lần mời làm việc (Biên bản làm việc ngày 11/8/2011; Công văn số 3105/UBND-TNMT ngày 20/9/2011; Công văn số 3658/UBND-TNMT ngày 07/11/2011 của UBND huyện Đ). Nay, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định thu hồi lại Giấy chứng nhận đầu tư và chấm dứt hoạt động của công ty TNHH E và UBND huyện Đ đã ban hành Quyết định thu hồi, huỷ bỏ Quyết định số 793/QĐ-UBND ngày 18/3/2009 và Quyết định số 1632/QĐ-UBND ngày 04/6/2009 của UBND huyện Đ. Đồng thời, việc tạm ứng tiền và tạm giữ Giấy chứng nhận giữa công ty TNHH T2 với ông Nguyễn Thanh Q không có
4
xác nhận của Công ty là thuộc giao dịch dân sự. UBND huyện đề nghị Toà án nhân dân huyện Long Đất xét xử theo quy định của pháp luật
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – UBND thị trấn P (cũ xã L), huyện L không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa: Ông Q xác định số tiền nhận tạm ứng 100.000.000đồng từ Công ty T2 là do ông Q trực tiếp nhận và chi tiêu vào mục đích cá nhân, không liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp, tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì cá nhân ông Q tự nguyện trả lại tiền tạm ứng đã nhận. Nay, ông Nguyễn Thanh Q vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay đổi bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất phát biểu quan điểm:
+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử chấp hành tốt các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã xác định chính xác về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án, tư cách những người tham gia tố tụng. Thẩm phán đã thu thập đầy đủ chứng cứ theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và quá trình tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, chấp nhận hủy bỏ hợp đồng đền bù và buộc hai bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tuyên hủy hợp đồng đền bù quyền sử dụng đất dưới hình thức giấy tay có tiêu đề là “Biên nhận tạm ứng tiền bồi thường” đề ngày 15/10/2008 giữa ông Nguyễn Thanh Q và Công ty TNHH T2 đồng thời yêu cầu giải quyết hậu quả của việc hủy hợp đồng. Do đó, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Tranh chấp hợp đồng đền bù quyền sử dụng đất”.
[1.2] Về thẩm quyền:
Do đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã L (nay là thị trấn P), huyện Đ (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Đất.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa, bị đơn Công ty TNHH T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện Đ, UBND thị trấn P
5
vắng mặt lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1.] Nguyên đơn yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng đền bù quyền sử dụng đất dưới hình thức giấy tay có tiêu đề “Biên nhận tạm ứng tiền bồi thường” giữa Công ty TNHH T2 (nay là Công ty TNHH K) với nguyên đơn thì thấy rằng:
[2.1.1] Về thu hồi, hủy bỏ các Quyết định của UBND tỉnh, UBND huyện Đ.
Ngày 25-8-2008, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2779/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thu hồi đất thực hiện dự án: Cụm C, xã L, huyện Đ trong đó có phần nhà, đất do các nguyên đơn nêu trên đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 26/02/2009, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 454/QĐ-UBND về việc thu hồi 446.234 m² đất tại xã L, huyện Đ để đầu tư xây dựng: Cụm C và hành lang đường vào Cụm C cho Công ty TNHH E (đại diện Công ty TNHH T2) có trách nhiệm chi trả trước tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Ngày 27/9/2010, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2358/QĐ-UBND về việc chấm dứt hoạt động và thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư của Công ty TNHH E.
Ngày 08/12/2010, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3229/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 454/QĐ-UBND ngày 26/02/2009 UBND tỉnh B với lý do Công ty TNHH E đã chấm dứt hoạt động và thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư (tại Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 27/9/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh B).
Ngày 18/3/2009, UBND huyện Đ ban hành quyết định số 793/QĐUBND về việc thu hồi 742 m² đất của ông Nguyễn Thanh Q thuộc thửa 4 (mới 28) tờ bản đồ số 646 (mới 13) đang sử dụng tại xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngày 24/12/2010, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 4470/QĐ-UBND về việc thu hồi, huỷ bỏ Quyết định số 793/QĐ-UBND ngày 18/3/2009 và Quyết định số 1632/QĐ-UBND ngày 04/6/2009 của UBND huyện Đ.
Như vậy, đến thời điểm ngày 24/12/2010, các Quyết định về thu hồi đối với phần đất của thửa đất do nguyên đơn được quyền quản lý, sử dụng nêu trên đã bị hủy bỏ, không còn hiệu lực pháp luật.
[2.1.2] Về xác lập giao dịch hợp đồng đền bù quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Q và Công ty TNHH T2:
Trước thời điểm có Quyết định thu hồi đất, ngày 15-10-2008, ông Nguyễn Thanh Q là người có đất dự kiến bị thu hồi đã ký biên nhận tạm ứng tiền bồi thường với nội dung hiện nay phần đất của ông Q đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất nằm hoàn toàn trong khu quy hoạch xây
6
dựng cụm CN-T4 và đã được Hội đồng BTTH& TĐC huyện Đất Đỏ kiểm kê xong; nguyên đơn cam kết ủng hộ chủ đầu tư tự nguyện di dời sớm và bàn giao đất nhằm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng để triển khai xây dựng hạ tầng cụm CN-T4; Nay, ông Q đồng ý nhận tiền tạm ứng tiền bồi thường về đất và vật kiến trúc trên đất nêu trên với số tiền ông Q nhận là 100.000.000đồng và số tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (nếu có) còn lại thì ông Q sẽ nhận đủ sau khi có bảng chiết tính chi tiết của Hội đồng BTHT&TĐC huyện Đất Đỏ đồng thời UBND xã L đã tiến hành xác nhận về việc ông Q đã nhận tiền và ông Nguyễn Thanh Q giao cho Công ty TNHH T2 tạm giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 138205 do UBND huyện Đ (Nay là huyện L) cấp ngày 01/12/2008 và được chỉnh lý biến động trang 4 sang tên ông Nguyễn Thanh Q ngày 10/3/2008.
Qúa trình giải quyết hồ sơ vụ án, Công ty TNHH T2 (Nay là công ty TNHH K) dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến. Theo Văn bản trả lời số 3977/ĐKKD-T6 của Phòng đăng ký kinh doanh trực thuộc Sở Kế hoạch đầu tư thành phố H thì hiện nay Công ty T2 (mã số doanh nghiệp C) nay là Công ty TNHH K chưa đăng ký giải thể, vẫn còn đăng ký hoạt động tại địa chỉ trụ sở chính là 168/75 đường D, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Xét, hợp đồng đền bù quyền sử dụng đất dưới hình thức giấy tay có tiêu đề “Biên nhận tạm ứng tiền bồi thường” được xác lập ngày 15/10/2008, bên bị đền bù đồng ý nhận tiền đền bù quyền sử dụng đất theo bảng chiết tính chi tiết của Hội đồng BTHT&TĐC huyện Đ, giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên đền bù tạm giữ và bên đền bù đã đưa trước cho bên bị đền bù một khoản tiền tạm ứng. Mặc dù, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên, phù hợp với phê duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thu hồi đất thực hiện dự án: Cụm C của UBND tỉnh B nhưng tại thời điểm thỏa thuận, UBND huyện Đ chưa ban hành Quyết định thu hồi đất đối với từng hộ dân, chưa có bảng chiết tính phê duyệt kinh phí bồi thường cho nguyên đơn và Công ty TNHH T2 không có quyền trực tiếp bồi thường và nhận hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Thanh Q. Như vậy, hai bên đã vi phạm điều cấm của Luật đất đai về thủ tục bồi thường, thu hồi đất nên giao dịch dân sự bị vô hiệu. Ngoài ra, hiện nay, đối tượng cũng không thể thực hiện được do các Quyết định thu hồi của tỉnh và huyện đều đã bị thu hồi, hủy bỏ.
Từ những phân tích trên, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên hủy hợp đồng đền bù với tiêu đề “Biên nhận tạm ứng tiền bồi thường” đề ngày 15/10/2008 giữa ông Nguyễn Thanh Q với Công ty TNHH T2 (nay là Công ty TNHH K).
[2.2] Về giải quyết hậu quả của các hợp đồng bị hủy:
Như đã phân tích ở trên, hợp đồng đền bù quyền sử dụng đất với tiêu đề “Biên nhận tạm ứng tiền bồi thường”, “Giấy cam kết” đề ngày 15/10/2008 giữa nguyên đơn và Công ty TNHH T2 bị vô hiệu, bị hủy, không còn hiệu lực. Do đó, nay giải quyết hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu, hủy thì theo quy định tại khoản
7
2 Điều 131 của Bộ luật dân sự 2015 khôi phục lại tình trạng ban đầu, giao trả lại cho nhau những gì đã nhận.
Theo đó, tại thời điểm ký hợp đồng, phía nguyên đơn đã nhận một số tiền tạm ứng của Công ty TNHH T2 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng) và Công ty TNHH T2 cũng đã xác nhận tại các biên bản làm việc tại UBND huyện Đ, Phòng Tài nguyên Môi Trường huyện Đ về việc có đang tạm giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh Q cam kết chậm nhất là ngày 31/8/2011 sẽ giao trả đồng thời UBND xã L cũng có xác nhận tại bên dưới biên nhận tạm ứng về việc giao nhận giấy, giao nhận tiền giữa hai bên. Vì vậy, cần buộc ông Nguyễn Thanh Q phải trả cho Công ty 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng) đồng thời, Công ty TNHH K phải có trách nhiệm trả lại các bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang tạm giữ cho nguyên đơn.
[2.3] Về chi phí tố tụng:
Tổng số tiền chi phí tố tụng (đo đạc, thẩm định, sao lục hồ sơ, thu thập tài liệu chứng cứ..) là 14.500.000đồng (Mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng), nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ và đã nộp xong.
[2.4] Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 26, khoản 4 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nhưng phải chịu án phí có giá ngạch đối với phần nghĩa vụ phải thực hiện.
Công ty TNHH K phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của các nguyên đơn được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 123, 131, 401, 402, 407, 408, 410, 413, 422, 427 và Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26, khoản 4 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30-6- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh Q, cụ thể:
- Tuyên hủy hợp đồng đền bù quyền sử dụng đất dưới hình thức giấy tay có tiêu đề “Biên nhận tạm ứng tiền bồi thường” đề ngày 15/10/2008 giữa ông Nguyễn Thanh Q và Công ty TNHH T2 (nay là Công ty TNHH K);
- Buộc Công ty TNHH K (cũ là Công ty TNHH T2) giao trả lại cho ông Nguyễn Thanh Q bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AL138205
8
do UBND huyện Đ (Nay là huyện L) cấp ngày 01/12/2008 và được chỉnh lý biến động trang 4 sang tên ông Nguyễn Thanh Q ngày 10/3/2008.
Trường hợp, Công ty TNHH K không giao trả các bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã tuyên nêu trên thì ông Nguyễn Thanh Q được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai.
2.3. Buộc ông Nguyễn Thanh Q có nghĩa vụ trả lại cho Công ty TNHH K số tiền là 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng);
2. Về chi phí tố tụng:
Tổng số tiền chi phí tố tụng (đo đạc, thẩm định, sao lục hồ sơ, thu thập tài liệu chứng cứ..) là 14.500.000đồng (Mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng), nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ và đã nộp xong.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1.Ông Nguyễn Thanh Q phải chịu 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002953 ngày 9/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ (nay là huyện L). Như vậy, ông Q còn phải nộp 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng)
3.2. Công ty TNHH K phải chịu 6.00.000đồng (Sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
4. Quyền và thời hạn kháng cáo:
Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Tuyền |
9
Bản án số 58/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng đền bù qsd đất
- Số bản án: 58/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đền bù QSD đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
