|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2025/DS-ST Ngày: 17-02-2025 V/v “Tranh chấp về chia thừa kế tài sản” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Kim Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ Bà Lê Thanh Xuân.
2/ Ông Nguyễn Thành Châu.
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lành, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Kiểm sát viên.
Vào ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2021/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2021, về việc “Tranh chấp về chia thừa kế tài sản”, giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1992. Địa chỉ liên lạc: I N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là người đại diện theo ủy quyền – Văn bản ủy quyền số công chứng 002944 ngày 20/5/2021 lập tại Văn phòng C).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B – tên khác là Nguyễn Văn B1 (Nguyen Van B2), sinh năm 1957. Quốc tịch : Australian. Địa chỉ: E A, S, Australia.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đặng Đăng K, sinh năm 1979. Địa chỉ: 1 V, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là người đại diện theo ủy quyền – Văn bản ủy quyền ngày 08/6/2021 đã hợp pháp hóa lãnh sự).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn N – tên khác là Nguyễn Văn N1 (Nguyen Van N2), sinh năm 1963. Địa chỉ: E A, S, Australia.
- Bà Nguyễn Thị S (Nguyen Sen T2), sinh năm 1953. Địa chỉ: E A, S, Australia.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị S: Ông Trần Trọng K1, sinh năm 1986. Địa chỉ: 1 Khu B, Chung cư G, số H T, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Là người đại diện theo ủy quyền – Văn bản ủy quyền ngày 08/6/2021 đã được hợp pháp hóa lãnh sự).
- Bà Huỳnh Anh T3, sinh năm 1999. Không rõ nơi cư trú.
- Bà Nguyễn Phương T4, sinh năm 1977.
- Bà Nguyễn Ngọc Phương V, sinh năm 2000.
- Ông Nguyễn Văn Phương T5, sinh năm 2004.
Cùng địa chỉ: Số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hoàng T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
- Về quan hệ nhân thân:
Ông Huỳnh Văn T6 – chết năm 1974 chung sống với bà Nguyễn Thị H - chết năm 1999, có 05 người con gồm:
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953;
- Ông Nguyễn Văn B (Nguyến Văn B3), sinh năm 1957;
- Ông Nguyễn Văn N (Nguyễn văn N1), sinh năm 1963;
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973;
- Ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1974 – chết năm 2007. Trước khi chết ông T7 có sống chung với bà Huỳnh Thị Ngọc H1 không có đăng ký kết hôn, có 01 người con chung là bà Huỳnh Anh T3, sinh năm 1999.
Cha mẹ ông Huỳnh Văn T6 đã chết trước ông T6, nhưng do không có kê khai nên gia đình không nhớ rõ họ tên là gì.
Bà Nguyễn Thị H có cha là ông Nguyễn Văn S1 – chết năm 1945 và mẹ là bà Nguyễn Thị H2 – chết năm 1971.
- Về tài sản:
Quá trình chung sống ông T6 và bà H có tạo lập được khối tài sản là nhà đất tọa lạc tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Tới năm 2004, ông T có đi kê khai xin cấp giấy chứng nhận và đã được nhà nước cấp
theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 00653/2004 do Ủy ban nhân dân Quận H3 cấp ngày 14/01/2004 cho ông Nguyễn Văn T là con, đại diện thừa kế của ông Huỳnh Văn T6 (chết năm 1974) và bà Nguyễn Thị H (chết năm 1999).
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Huỳnh Văn T6 (chết năm 1974) và bà Nguyễn Thị H (chết năm 1999) để lại là nhà đất tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 00653/2004 do Ủy ban nhân dân Quận H3 cấp ngày 14/01/2004 cho ông Nguyễn Văn T là con, đại diện thừa kế của ông Huỳnh Văn T6 (chết năm 1974) và bà Nguyễn Thị H (chết năm 1999).
Do ông T đã cư trú tại nhà đất từ trước tới nay, hiện cũng là người đang thờ cúng cha mẹ, ông bà tổ tiên. Do đó, để đảm bảo chỗ ở ổn định, ông T xin được nhận hiện vật là nhà đất và sẽ hoàn trả lại giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế khác. Đối với phần thừa kế của ông Nguyễn Văn T7 được hưởng thì ông T xin được đứng quản lý và sẽ giao trả lại cho thừa kế của ông T7 khi có yêu cầu vì hiện nay gia đình không rõ nơi cư trú của bà T3 con ông T7.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Đăng K là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:
Thống nhất với trình bày của nguyên đơn về quan hệ nhân thân, nguồn gốc di sản thừa kế.
Trước đây các đồng thừa kế cũng đã tiến hành thủ tục khai nhận di sản, tuy nhiên do cơ quan công chứng xác minh có thêm đồng thừa kế là bà Huỳnh Anh T3 con của ông T7 nên thủ tục khai nhận thừa kế không tiến hành được. Ngoài ra khi đó ông B3 cũng có ý kiến bất đồng với ông T về cách thức chia di sản nên các bên không hợp tác trong quá trình thực hiện thủ tục khai nhận di sản. Nay anh em trong gia đình đã hòa thuận, ông B3 đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của ông T. Ông B3 xin tặng cho kỷ phần thừa kế của mình cho ông Nguyễn Văn T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Trọng K1 là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị S trình bày:
Thống nhất với trình bày của nguyên đơn về quan hệ nhân thân, nguồn gốc di sản thừa kế.
Trước đây các đồng thừa kế cũng đã tiến hành thủ tục khai nhận di sản, tuy nhiên do cơ quan công chứng xác minh có thêm đồng thừa kế là bà Huỳnh Anh T3 con của ông T7 nên thủ tục khai nhận thừa kế không tiến hành được. Ngoài ra khi đó ông B3 cũng có ý kiến bất đồng với ông T về cách thức chia di sản nên các bên không hợp tác trong quá trình thực hiện thủ tục khai nhận di sản.
Ông N, bà S xác định đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn. Ông N, bà S xin tặng cho kỷ phần thừa kế của mình cho ông Nguyễn Văn T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Phương T4, bà Nguyễn Ngọc Phương V, ông Nguyễn Văn Phương T5 trình bày: Bà T4, bà Phương V, ông Phương T5 hiện đang cư trú trong nhà. Không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án, thống nhất với nguyên đơn. Có đơn xin vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn; Đại diện bị đơn; Đại diện ông B, ông N, bà S; Bà T4, bà Phương V, ông Phương T5 xin vắng mặt. Bà Anh T3 vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia di sản thừa kế. Ghi nhận việc ông B, ông N, bà S đồng ý giao kỷ phần thừa kế được hưởng cho nguyên đơn, do đó nguyên đơn được hưởng 4/5 kỷ phần; Bà Huỳnh Anh T3 được hưởng 1/5 kỷ phần. Đối với 1/5 kỷ phần thừa kế của bà Huỳnh Anh T3 được nhận sẽ giao cho ông Nguyễn Văn T tạm thời quản lý. Án phí các bên chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Vụ án tranh chấp có liên quan đến yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với nhà đất tọa lạc tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Nguyễn Văn B, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị S cư trú Australia là thuộc trường hợp có đương sự ở nước ngoài, căn cứ Điều 26, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh. Có cơ sở xác định về quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về chia thừa kế tài sản”.
[1.2] Về thời hiệu: Do các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét về thời hiệu khởi kiện theo quy định Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Sự vắng mặt, có mặt của các đương sự: Đại diện nguyên đơn; Đại diện bị đơn; Đại diện ông B, ông N, bà S; Bà T4, bà Phương V, ông Phương T5 có đơn xin vắng mặt. Bà Huỳnh Anh T3 không rõ nơi cư trú đã được Tòa án thông báo cho người vắng mặt tại nơi cư trú trên phương tiện thông tin đại chúng về việc thụ lý vụ án, ngày giờ mở phiên họp hòa giải, xét xử nhưng vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung:
Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết: Chia thừa kế theo pháp luật đối với nhà đất tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 00653/2004 do Ủy ban nhân dân Quận H3 cấp ngày 14/01/2004 cho ông Nguyễn Văn T là con, đại diện thừa kế của ông Huỳnh Văn T6 (chết năm 1974) và bà Nguyễn Thị H (chết năm 1999).
[2.1] Về quan hệ nhân thân:
Theo sự thừa nhận của các đương sự trong vụ án cũng như căn cứ theo bản sao các giấy khai sinh, giấy chứng tử, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân... có đủ cơ sở để xác định:
Ông Huỳnh Văn T6 – chết năm 1974 chung sống với bà Nguyễn Thị H - chết năm 1999, có 05 người con gồm: Bà Nguyễn Thị S (N), ông Nguyễn Văn B (tên khác là Nguyễn Văn B1 - N), ông Nguyễn Văn N (tên khác là Nguyễn Văn N1 - N), ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn T7. Ông Nguyễn Văn T7 chết năm 2007 không đăng ký kết hôn với ai có 01 người con là bà Huỳnh Anh T3. Cha mẹ ông T6, bà H đã chết trước ông T6, bà H.
[2.2] Về nguồn gốc tài sản tranh chấp là nhà đất số tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh:
Xét, theo Công văn số 1254/CNQ8-LT ngày 18/5/2022 của Chi nhánh văn phòng Đ và trình bày của các đương sự có cơ sở xác định nhà đất số tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc thửa 27, tờ bản đồ số 21 BĐĐC-P11 Q8) là của ông Huỳnh Văn T6 và bà Nguyễn Thị H, đã được Ủy ban nhân dân Quận H3 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 00653/2004 ngày 14/01/2004 với diện tích đất được công nhận là 63,9m² cho ông Nguyễn Văn T là con, đại diện thừa kế của ông Huỳnh Văn T6 (chết năm 1974) và bà Nguyễn Thị H (chết năm 1999) đứng tên chủ sở hữu, sử dụng.
Như vậy, di sản của ông T6, bà H để lại là nhà đất tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T6, bà H chết không để lại di chúc. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản của ông T6, bà H được chia cho hàng thừa kế thứ nhất là các con, được chia thành 05 phần bằng nhau như sau: Bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn B (Nguyễn Văn B1), ông Nguyễn Văn N (Nguyễn Văn N1), ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn T7 mỗi người được hưởng 1/5 kỷ phần thừa kế. Ông Nguyễn Văn T7 – chết năm 2007 nên kỷ phần thừa kế được chia cho con là bà Huỳnh Anh T3.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án định giá giá trị xây dựng của căn nhà là 185.622.108 đồng. Bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn B (Nguyễn Văn B1), ông Nguyễn Văn N (Nguyễn Văn N1) đồng ý tặng cho kỷ phần thừa kế của mình cho ông Nguyễn Văn T. Như vậy ông Nguyễn Văn T được hưởng tổng cộng 4/5 kỷ phần thừa kế giá trị tương đương 51.12 m² và 80% giá trị xây dựng nhà. Bà Huỳnh Anh T3 được hưởng 1/5 kỷ phần thừa kế giá trị tương đương 12.78 m² và 20% giá trị xây dựng nhà.
Trong trường hợp này vì nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú hiện nay của bà T3 nên căn cứ khoản 3 Điều 16 Nghị quyết Số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì “Đối với vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế mà nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ và Tòa án đã tiến hành các biện pháp để thu thập, xác minh địa chỉ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của người đó thì Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Phần tài sản mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ được nhận thì Tòa án tạm giao cho người thân thích của người đó hoặc người thừa kế khác quản lý. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu”. Do đó, 1/5 kỷ phần thừa kế của bà Huỳnh Anh T3 được nhận sẽ tạm giao cho ông Nguyễn Văn T quản lý. Quyền, nghĩa vụ của bà T3 sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
Đối với trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế chưa tìm được địa chỉ sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu. Do đó, dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác nếu có phát sinh tranh chấp cho các trường hợp xuất hiện người thừa kế mới theo quy định pháp luật.
Thực tế diện tích nhà đất trên do ông Nguyễn Văn T quản lý, vì vậy nên giao cho ông Nguyễn Văn T quản lý sử dụng, ông T có trách nhiệm giao lại cho các thừa kế khác bằng giá trị được tính trên diện tích đất tại thời điểm thi hành án
là phù hợp thực tế và đảm bảo quyền lợi cho tất cả các đương sự. Trường hợp ông Nguyễn Văn T không có khả năng thi hành, thì giao cho cơ quan thi hành án phát mãi nhà đất trên để chia theo giá trị tương đương với diện tích đất mà các đồng thừa kế được chia như trên. Khi đó, buộc ông Nguyễn Văn T cùng những người đang cư trú tại nhà đất trên giao trả nhà trống số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để phát mãi theo quy định pháp luật. Sau khi phát mãi trừ đi tất cả các chi phí phát sinh, phần còn lại chia theo giá trị như trên tại thời điểm thi hành án.
[3] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí Thẩm định giá, đăng báo nguyên đơn tự nguyện chịu và đã thực hiện xong.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì các đương sự phải chịu án phí tương ứng đối với phần tài sản được chia như sau:
Các đương sự thống nhất xác định giá trị nhà đất tại số nhà đất 1 T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Chứng thư thẩm định giá số A.037 ngày 06/3/2023 giá trị là 2.369.616.702 đồng. Do đó, các đương sự phải chịu án phí trên giá trị nhà đất mà mỗi người được hưởng như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T được hưởng 4/5 kỷ phần tương đương: 4/5 x 2.369.616.702 đồng = 1.895.693.362 đồng. Phải chịu án phí là: 36.000.000 đồng + 3%(1.895.693.362 đồng - 800.000.000 đồng) = 68.870.801 đồng. Được cấn trừ vào tạm ứng án phí đã nộp số tiền 3.500.000 đồng theo Biên lai thu số 0094146 ngày 14/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn T còn phải chịu 65.370.801 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Anh T3 được hưởng 1/5 kỷ phần tương đương: 1/5x2.369.616.702 đồng = 473.923.340 đồng. Phải chịu án phí là: 20.000. 000 đồng + 4%( 473.923.340 đồng - 400.000.000 đồng) = 22.956.934 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 34, khoản 1 và 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 616, Điều 618, Điều 620, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1./ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
2./ Xác định di sản của ông Huỳnh Văn T6 và bà Nguyễn Thị H chết để lại là nhà đất tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc thửa 27, tờ bản đồ số 21 BĐĐC-P11 Q8), diện tích đất ở 63.9m².
3./ Xác định những người thừa kế theo pháp luật của ông Huỳnh Văn T6 và bà Nguyễn Thị H gồm: Bà Nguyễn Thị S (N), ông Nguyễn Văn B (tên khác là Nguyễn Văn B1 - N), ông Nguyễn Văn N (tên khác là Nguyễn Văn N1 - N), ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn T7 (chết 2007 có con là bà Huỳnh Anh T3 thừa kế thế vị).
4./ Nhà đất tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh được chia thừa kế như sau:
4.1. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T được hưởng 4/5 (bốn phần năm) kỷ phần thừa kế giá trị tương đương 51.12m² và 80% giá trị xây dựng nhà;
4.2. Bà Huỳnh Anh T3 được hưởng 1/5 (một phần năm) kỷ phần thừa kế giá trị tương đương 12.78m² và 20% giá trị xây dựng nhà. Đối với kỷ phần thừa kế của bà Huỳnh Anh T3 được nhận sẽ tạm giao cho ông Nguyễn Văn T quản lý.
Tất cả các đương sự được chia thừa kế di sản bằng diện tích đất được tính bằng giá trị tại thời điểm thi hành án.
5./ Ông Nguyễn Văn T được quyền nhận nhà đất và có trách nhiệm giao cho các thừa kế trên bằng giá trị tương đương với diện tích đất các thừa kế được nhận tại thời điểm thi hành án. Ngay sau khi hoàn thành trách nhiệm ông Nguyễn Văn T được quyền sở hữu, sử dụng nhà đất tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh và được quyền liên hệ Văn phòng Đ, và các cơ quan chức năng để điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất theo quy định pháp luật.
6./ Trường hợp ông Nguyễn Văn T không có khả năng thi hành, thì ông Nguyễn Văn T cùng những người đang cư trú tại nhà đất nêu trên có trách nhiệm giao nhà đất trống tại số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cho cơ quan Thi hành án có thẩm quyền để phát mãi và chia giá trị cho các đồng thừa kế được nhận theo sự phân chia diện tích đất như nêu trên theo quy định pháp luật. Số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản (sau khi trừ các lệ phí phải nộp theo quy định pháp luật và các khoản chi phí khác) sẽ được chia cho các đồng thừa kế theo diện tích đất như trên tại thời điểm thi hành án.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu các đồng thừa kế không có khả năng nhận nhà đất và trả lại giá trị cho các đồng thừa kế khác theo kỷ phần, các đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản để được hưởng phần giá trị tài sản mà mình được hưởng, sau khi trừ đi các chi phí cần thiết cho việc thi hành án. Giá trị tài sản được xác định tại thời điểm thi hành án. Các đồng thừa kế được hưởng di sản được quyền ưu tiên mua tại tài sản, các đồng
thừa kế hiện đang cư trú tại nhà đất được quyền ưu tiên mua trước.
7./ Về chi phí tố tụng khác:
Nguyên đơn tự nguyên chịu và đã nộp xong.
8./ Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí là 68.870.801 (sáu mươi tám triệu tám trăm bảy mươi nghìn tám trăm lẻ một) đồng. Được cấn trừ vào tạm ứng án phí đã nộp số tiền 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0094146 ngày 14/5/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn T còn phải chịu 65.370.801 (sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi nghìn tám trăm lẻ một) đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Anh T3 phải chịu án phí là 22.956.934 (hai mươi hai triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm ba mươi bốn) đồng.
Các bên thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người nào cản trở thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án và thiệt hại cho những người khác theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
9./ Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doãn Thị Kim Thúy |
Bản án số 58/2025/DS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về chia thừa kế tài sản
- Số bản án: 58/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án
