TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2025/DS-ST
Ngày 13/6/2025
V/v tranh chấp thừa kế tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tài Thế
Ông Trần Văn Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Ông Trương Minh Diền – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp thừa kế tài sản.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 111/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1948. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị L: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số B, đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (được uỷ quyền theo Hợp đồng uỷ quyền được công chứng ngày 26/4/2024). (có mặt)
- Bị đơn:
Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ liên hệ: Số A, đường S, Khóm D, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Bà Huỳnh Thanh T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ liên hệ: Số A, đường S, Khóm D, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà Huỳnh Thanh T: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ liên hệ: Số A, đường S, Khóm D, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (được uỷ quyền theo Giấy uỷ quyền ngày 02/5/2024). (vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ liên hệ: Số A, đường S, Khóm D, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Bà Huỳnh Kim H1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ liên hệ: Số A, đường S, Khóm D, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Huỳnh Hoàng M, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
Bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị Trúc Đ1. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà Huỳnh Thị D, Nguyễn Thị Trúc Đ1: Ông Huỳnh Hoàng M, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (được uỷ quyền theo các Hợp đồng uỷ quyền được công chứng ngày 23/8/2024 và ngày 08/5/2025). (có mặt)
Bà Huỳnh Kim C. Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm A, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ hiện tại: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Huỳnh Kim C:
Ông Lê Thế H2, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm A, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ liên hệ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Em Lê Vĩnh K, sinh năm 2005. Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm A, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ liên hệ: Số C, đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/12/2023 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Trần Văn Đ là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Nguyên bà Nguyễn Thị L cùng chồng là ông Huỳnh Văn Ầ (chết năm 2022) tạo lập được khối tài sản là căn nhà và đất tại địa chỉ số C đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 739525, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 2364 do Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Huỳnh Văn  và bà Nguyễn Thị L tại Thửa đất số 313, Tờ bản đồ số 32 diện tích 58,3m². Ông Ầ và bà L có với nhau 07 người con chung gồm: Huỳnh Thị N, sinh năm 1967; Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1970; Huỳnh Thanh T, sinh năm 1976; Huỳnh Kim H1, sinh năm 1983; Huỳnh Thị Kim C (đã chết, có chồng là Lê Thế H2 và có 01 người con là Lê Vĩnh K); Huỳnh Hoàng M, sinh năm 1989 và Huỳnh Thị D, sinh năm 1979. Ngoài những người con nói trên, ông Ầ và bà L không có con riêng, con nuôi nào khác. Chồng bà L là ông Ả chết năm 2022 (Theo Giấy trích lục khai tử số 355/TLKT-BS ngày 15/8/2023 của Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng) và không để lại di chúc. Căn nhà hiện tại đang do bà L quản lý và sử dụng. Nay bà L đã cao tuổi cần được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng nên bà L muốn được chia thừa kế theo pháp luật đối với phần tài sản mà chồng để lại là 50% giá trị căn nhà và đất tại địa chỉ số C đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Cụ thể: Chia 50% giá trị căn nhà và đất là 1.969.000.000 đồng (giá trị căn nhà và đất theo định giá có giá trị là 3.938.000.000 đồng) thành 07 kỷ phần bằng nhau cho các đồng thừa kế (mỗi kỷ phần là 281.285.714 đông). Bà L đồng ý nhận hiện vật và trả giá trị lại cho các đồng thừa kế. Việc giao nhận tiền, di dời tài sản để giao nhà đất cho bà L vào ngày 12/5/2025.
- Bị đơn bà Huỳnh Thị N và là người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Huỳnh Thanh T trình bày tại biên bản hoà giải và tại biên bản lấy lời khai đương sự: Thống nhất tài sản là căn nhà và đất số 39 đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là tài sản của cha mẹ ông Huỳnh Văn Á bà Nguyễn Thị L và anh chị em có 07 người như người đại diện của nguyên đơn trình bày. Nay đồng ý nhận kỷ phần được hưởng, đồng ý di dời toàn bộ tài sản cá nhân để giao nhà và đất số 39 đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cho mẹ là bà Nguyễn Thị L được quản lý, sử dụng và định đoạt nếu chia thừa kế cho 07 người.
- Bị đơn bà Huỳnh Thị Kim H trình bày tại biên bản hoà giải: Thống nhất tài sản là của cha mẹ và anh chị em có 07 người như nguyên đơn trình bày. Đối với yêu cầu của nguyên đơn nếu chia 07 người thì đồng ý và đồng ý với ý kiến của bị đơn N.
- Bị đơn bà Huỳnh Kim H1 trình bày tại biên bản hoà giải: Thống nhất với ý kiến của bị đơn N, H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Hoàng M và là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị D trình bày tại phiên toà, cũng như tại biên bản hoà giải: Thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Huỳnh Thị Kim C là ông Lê Thế H2 trình bày tại biên bản hòa giải: Thống nhất với ý kiến của các bị đơn và người liên quan là chia thừa kế cho 07 người và nguyên đơn yêu cầu chia thì phải chịu án phí.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Huỳnh Thị Kim C là Lê Vĩnh K trình bày tại biên bản hoà giải: Thống nhất với ý kiến của các bị đơn và người liên quan là chia thừa kế cho 07 người và nguyên đơn yêu cầu chia thì phải chịu án phí.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Trúc Đ1 trình bày tại biên bản hoà giải: Thống nhất với yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về di sản thừa kế thì trong quá trình chung sống cụ L và cụ Ầ tạo lập được khối tài sản căn nhà và đất tại địa chỉ: Số C đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AL 739525, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 2364 do Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Huỳnh Văn Ầ và bà Nguyễn Thị L, tại thửa số 313, tờ bản đồ số 32, diện tích 58,3m², tọa lạc tại khóm C, phường F, TP ., tỉnh Sóc Trăng. Cụ Ầ chết năm 2022 không để lại di chúc. Đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 BLTTDS năm 2015; Về hàng thừa kế thì cụ L và cụ Ầ có 07 người con, gồm: bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Thị Kim H, bà Huỳnh Thanh T, bà Huỳnh Kim H1, bà Huỳnh Thị D, ông Huỳnh Hoàng M, bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm: 1972, chết năm 2021 có chồng là ông Lê Thế H2, con Lê Vĩnh K. Do cụ Ầ chết năm 2022 không để lại di chúc, nên hàng thừa kế thứ nhất của cụ Ầ gồm: Cụ L, bà N, bà H, bà T, bà H1, bà D, ông M, bà C, sinh năm: 1972, chết năm 2021 (do bà C chết nên anh Lê Vĩnh K hàng thừa kế thế vị của bà C) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 652 BLDS năm 2015; Về phân chia di sản thừa kế: Cụ Ầ chết không để lại di chúc, nên 50% tài sản của cụ L và cụ Ầ thì cụ L được hưởng 50% tài sản chung của vợ chồng. 50% phần tài sản còn lại là di sản thừa kế của cụ Ầ chết để lại. Do đó, 50% giá trị tài sản chia làm 08 kỷ phần, mỗi người 01 kỷ phần. Buộc cụ Nguyễn Thị L có nghĩa vụ giao trả giá trị cho bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Thị Kim H, bà Huỳnh Thanh T, bà Huỳnh Kim H1, bà Huỳnh Thị D, ông Huỳnh Hoàng M, anh Lê Vĩnh Kmỗi người một kỷ phần.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Mặc dù, đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L vắng mặt, nhưng có ông Trần Văn Đ là người đại diện tham gia phiên tòa; Bị đơn bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Thanh T, bà Huỳnh Thị Kim H, bà Huỳnh Kim H1 vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị D, bà Nguyễn Thị Trúc Đ1 vắng mặt nhưng có ông Huỳnh Hoàng M là người đại diện tham gia phiên toà; Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà C là ông Lê Thế H2, em Lê Vĩnh K vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người có tên nêu trên.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần tài sản mà chồng để lại là 50% giá trị căn nhà và đất tại địa chỉ số C đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Vụ án có yếu tố nước ngoài do theo các văn bản của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh S thì bị đơn bà Huỳnh Thanh T đã xuất cảnh lần cuối vào ngày 24/9/2024. Hiện tại chưa phát hiện thông tin nhập cảnh. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo quy định tại khoản 5 Điều 26; Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
[3] Theo Trích lục khai tử số 355/TLKT-BS ngày 15/8/2023 của Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thì cụ Huỳnh Văn Ầ chết ngày 21/7/2022. Nên thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của cụ Ầ phát sinh sau thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật. Do đó, áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết tranh chấp.
[4] Về nội dung: Cụ bà Nguyễn Thị L sinh ngày 01/01/1948 có chồng là cụ ông Huỳnh Văn Á sinh ngày 01/01/1947 (chết ngày 21/7/2022). Sinh thời cụ L cụ Ầ có 07 người con chung gồm: Huỳnh Thị N, sinh năm 1967; Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1970; Huỳnh Thanh T, sinh năm 1976; Huỳnh Kim H1, sinh năm 1983; Huỳnh Thị Kim C (chết, có chồng là Lê Thế H2 và có 01 người con là Lê Vĩnh K); Huỳnh Hoàng M, sinh năm 1989 và Huỳnh Thị D, sinh năm 1979. Theo lời trình bày thống nhất của các đương sự thì cụ Ầ chết không để lại di chúc. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650; điểm a khoản 1 Điều 651; Điều 652 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di sản của cụ Ầ được thừa kế theo pháp luật và các ông bà Nguyễn Thị L, Huỳnh Thị N, Huỳnh Thị Kim H, Huỳnh Thanh T, Huỳnh Kim H1, Huỳnh Thị Kim C (chết, có 01 người con là Lê Vĩnh K); Huỳnh Hoàng M và Huỳnh Thị D đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có thừa kế thế vị, không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 621 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Sau khi chết cụ Ầ có để lại di sản là một phần tài sản trong khối tài sản chung với cụ L là căn nhà gắn liền thửa đất số 313, Tờ bản đồ số 32 diện tích 58,3m² tại địa chỉ số C đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 739525, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 2364 do Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Huỳnh Văn Ầ và bà Nguyễn Thị L ngày 22/01/2008.
[6] Theo chứng thư thẩm định giá số 413/2024/11 do Công ty cổ phần Đ2 phát hành ngày 22/7/2024, thì giá trị tài sản là quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 313, tờ bản đồ số 32, diện tích 58,30m², địa chỉ số C đường N, Khóm C, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và công trình xây dựng trên đất (nhà ở) có tổng giá trị là 3.938.262.811 đồng. Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là 3.766.625.246 đồng, nhà ở, tài sản gắn liền trên đất là 171.637.565 đồng. Do đó, 50% di sản của cụ Ầ để lại có giá trị là 1.969.131.405 đồng.
[7] Cụ L yêu cầu chia di sản của cụ Ầ là 50% trong khối tài sản chung của cụ L cụ Ầ thành 08 kỷ phần bằng nhau cho tất cả các đồng thừa kế là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận. Giá trị mỗi kỷ phần thừa kế sau khi chưa thành 08 phần bằng nhau là 1.969.131.405 đồng : 8 = 246.141.426 đồng.
[8] Cụ Ầ yêu cầu nhận hiện vật và đồng ý trả giá trị kỷ phần thừa kế cho 07 người con, trong đó kỷ phần của bà C thì người con là em Lê Vĩnh K được hưởng.
[9] Từ những nhận định, phân tích trên, có đủ cơ sở chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[10] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu tương ứng với giá trị kỷ phần được hưởng theo quy định pháp luật. Riêng nguyên đơn được miễn án phí sơ thẩm do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào 5 Điều 26; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 38; Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 95; Điều 167; Điều 170 của Luật đất đai năm 2013;
- Căn cứ Điều 33; Điều 43 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 621; điểm a khoản 1 Điều 650; Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào điểm đ Khoản 1 Điều 12; Điều 26; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc chia thừa kế tài sản.
Chia và giao cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L thừa kế bằng hiện vật là căn nhà gắn liền thửa đất số 313, Tờ bản đồ số 32 diện tích 58,3m² tại địa chỉ số C đường N, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 739525, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 2364 do Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 22/01/2008.
Buộc bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ giao trả cho bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Thị Kim H, bà Huỳnh Thanh T, bà Huỳnh Kim H1, bà Huỳnh Thị D, ông Huỳnh Hoàng M, bà Huỳnh Thị Kim C mỗi người số tiền là 246.141.426 đồng. Trong đó, kỷ phần giá trị bằng tiền của bà Huỳnh Thị Kim C do em Lê Vĩnh K được nhận.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với tổng số tiền 15.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị L, bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Thị Kim H, bà Huỳnh Thanh T, bà Huỳnh Kim H1, bà Huỳnh Thị D, ông Huỳnh Hoàng M, bà Huỳnh Thị Kim C mỗi người phải chịu số tiền là 1.875.00 đồng và nộp để trả lại cho bà Nguyễn Thị L, vì bà L đã nộp tạm ứng trước và đã sử dụng hết vào việc thẩm định, định giá tài sản tranh chấp. Trong đó, phần của bà Huỳnh Thị Kim C do em Lê Vĩnh K chịu.
Về án phí sơ thẩm:
- Buộc bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Thị Kim H, bà Huỳnh Thanh T, bà Huỳnh Kim H1, bà Huỳnh Thị D, ông Huỳnh Hoàng M, bà Huỳnh Thị Kim C mỗi người phải chịu số tiền là 12.307.071 đồng. Trong đó, phần án phí của bà Huỳnh Thị Kim C do em Lê Vĩnh K chịu.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L được miễn án phí sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 58/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 58/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
