|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 58/2025/DS-ST Ngày 12 tháng 6 năm 2025 V/v Tranh chấp đòi tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh
Ông Huỳnh Tài Em
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 354/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp đòi tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1970
- Bị đơn: Ông Hồ Việt T, sinh năm 1986
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Ông B có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn bà Trần Thị B trình bày: Vào ngày 01/12/2023, bà Trần Thị B có đưa cho ông T số tiền cọc để thu mua Vẹm bán lại cho bà B với số tiền là 20.000.000 đồng. Tối ngày 01/12/2023, bà B tiếp tục cho ông T mượn 5.000.000 đồng, sau đó ông T trả dần được 4.000.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng chưa trả. Từ ngày 16/10/2020 (âm lịch) đến ngày 06/11/2023 (âm lịch) bà B có mua sò giống dùm ông T tổng cộng là 129,3kg với số tiền là 7.750.000 đồng nhưng sau khi ông T nhận sò giống xong chưa trả tiền cho bà B. Mặc dù đã liên hệ để yêu cầu ông T trả tiền nhiều lần, nhưng ông T vẫn hứa hẹn mà trốn tránh không trả. Khi đưa cho ông T 20.000.000 đồng tiền cọc để thu mua vẹm thì bà B có ghi biên nhận có ông T ký vào. Khi bà B cho ông T mượn số tiền 5.000.000 đồng vào ngày 01/12/2023 không có làm biên nhận vì thấy số tiền không lớn. Khi bà B mua sò giống dùm ông T với số tiền 7.750.000 đồng cũng không có làm giấy tờ biên nhận gì, vì trước đây cũng thường xuyên mua dùm ông T nhiều lần nên tin tưởng, chỉ tự ghi giấy tự theo dõi. Tại đơn khởi kiện bà B yêu cầu Tòa án buộc ông Hồ Việt T trả cho bà B số tiền nợ tổng cộng là 28.750.000 đồng. Ngày 09/4/2025 bà B rút 01 phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông T trả số tiền mua sò giống dùm ông T là 7.750.000 và tiền mượn chưa trả là 1.000.000 đồng. Nay bà B chỉ yêu cầu ông T trả số tiền cọc thu mua vẹm là 20.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
* Về phía bị đơn ông Hồ Việt T sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho ông T nhưng ông T cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời khai.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình phát biểu quan điểm:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu ông T trả số tiền mua sò giống dùm ông T là 7.750.000 và tiền mượn chưa trả là 1.000.000 đồng; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B về việc yêu cầu ông Hồ Việt T trả số tiền cọc mua vẹm là 20.000.000 đồng.
- - Về án phí: Buộc ông Hồ Việt T phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Hồ Việt T trả số tiền nợ là 28.750.000 đồng nên đây là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, do đó Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Hồ Việt T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Ngày 09/4/2025 nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối yêu cầu ông T trả tiền mua sò giống dùm là 7.750.000 và tiền mượn chưa trả là 1.000.000 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B khởi kiện yêu cầu ông Hồ Việt T trả số tiền nợ là 20.000.000 đồng và cung cấp 01 tờ biên nhận tiền đề ngày 01/12/2023 có chữ ký của ông Hồ Việt T, Hội đồng xét xử xét thấy: Vào ngày 01 tháng 12 năm 2023 bà Trần Thị B có đưa cho ông Hồ Việt T số tiền 20.000.000 đồng tiền cọc thu mua vẹm, hai bên có làm tờ biên nhận có nội dung bên đưa tiền là bà B, bên nhận tiền là ông T, có chữ ký của ông T. Như vậy, việc thỏa thuận giao nhận tiền cọc mua vẹm giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và có xảy ra trên thực tế.
[2.3] Mặc dù Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T nhưng tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh: “ Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp...”, đồng thời “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”, “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T để triệu tập đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông T không đến, không có ý kiến, không có yêu cầu gì là từ bỏ quyền chứng minh của mình khi tham gia tố tụng tại tòa án, cố tình trốn tránh trách nhiệm.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định ông T còn nợ bà B số tiền là 20.000.000 đồng, nên yêu cầu khởi kiện của bà B là có cơ sở nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: Bà Trần Thị B không phải chịu án phí. Ông Hồ Việt T có nghĩa vụ trả cho bà B số tiền nợ là 20.000.000 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là: 20.000.000 đồng x 5% = 1.000.000 đồng.
[4] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; khoản 2 Điều 184; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B về việc yêu cầu ông Hồ Việt T trả tiền mua sò giống dùm là 7.750.000 và tiền mượn chưa trả là 1.000.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị B đối với ông Hồ Việt T về việc yêu cầu ông T trả số tiền cọc mya vẹm là 20.000.000 đồng.
- Buộc ông Hồ Việt T có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị B số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Về án phí dân sự có giá ngạch: Buộc ông Hồ Việt T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà Trần Thị B không phải chịu án phí. Bà B đã nộp tạm ứng án phí 718.000 đồng theo biên lai thu số 0005809 ngày 09/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Tâm |
Bản án số 58/2025/DS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 58/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà B yêu cầu ông T trả nợ
