TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2025/DS-PT
Ngày 27-6-2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Khắc Chiên
Ông Nguyễn Hán Hưởng
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 27 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 135/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 140/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐ-PT ngày 20/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐ-PT ngày 20/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐ-PT ngày 20/3/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/QĐ-PT ngày 03/4/2025; Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 04/2025/QĐ-PT ngày 05/5/2025; Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 07/2025/QĐPT-DS ngày 30/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐ-PT ngày 13/6/2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Cụ Tạ Thị V, sinh năm 1944. Địa chỉ: Khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Quốc T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (Theo Giấy ủy quyền ngày 27/02/2024).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ V: Bà Bùi Thị Thanh N, sinh năm 1983, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh P.
- Bị đơn: Ông Triệu Quang H, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960. Địa chỉ: Khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Hà Văn V1, sinh năm 1957, địa chỉ: Phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 10/12/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Hoàng Quốc T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- - Chị Hoàng Thị Hải N1, sinh năm 1970. Địa chỉ: khu H, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- - Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1975. Địa chỉ: khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- - Anh Hoàng Trung T1, sinh năm 1980. Địa chỉ: khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- - Chị Hoàng Thị Hồng T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: khu A, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện theo ủy quyền của chị N1, chị H2, anh T1, chị T2 là ông Hoàng Quốc T (Theo giấy ủy quyền ngày 15/03/2024).
- - UBND huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu N2, Chủ tịch UBND huyện P.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc Q, Phó trưởng phòng T8, nay là phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện P, tỉnh Phú Thọ (Theo Giấy ủy quyền ngày 30/8/2024).
- - UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến S, chủ tịch UBND xã P, huyện P.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1979, công chức địa chính xã P, huyện P (Theo Giấy ủy quyền ngày 16/8/2024).
- - Người kháng cáo: Ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1, đều là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn là bà Tạ Thị V và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Gia đình cụ V sinh sống và định cư lâu năm ở khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Năm 1980, gia đình cụ V có khai hoang thửa đất để trồng cây S ở khu vực Đồi K và sau này trồng các cây cối, hoa màu và cây thời vụ khác. Nhiều hộ dân trong khu dân cư đều biết thời điểm những năm đó chỉ có gia đình cụ V trồng cây S tại khu vực trên. Đến năm 1996, gia đình cụ V được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa B 133697 đứng tên cụ là Tạ Thị V, trong sổ mục kê của xã quản lý đã có các thửa đất trên. Những năm sau đó gia đình cụ V vẫn liên tục trồng cây trên thửa đất đã mở rộng khai hoang. Đến năm 2010, nhà nước đo đạc bản đồ địa chính khu đất vỡ hoang của gia đình cụ V đo đúng ranh giới giữa các hộ không có tranh chấp và ký giáp ranh giữa các hộ. Đến năm 2014, nhà cụ V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vẫn đứng tên hộ bà Tạ Thị V, số bìa là BX 716963 ngày 25/12/2014 do UBND huyện P cấp, thửa đất số 39, tờ bản đồ số 9, diện tích 1436 m², gia đình cụ V vẫn đang trồng cây. Sau khi con của cụ V đi công tác, chồng cụ V là ông Hoàng Văn C là bệnh binh sức khỏe yếu nên chồng cụ V có cho ông H mượn một phần đất để trồng cây. Đến tháng 8/2023, ông H gọi bán phần đất mượn của nhà cụ V cho Công ty V2. Khi biết sự việc gia đình cụ V đã yêu cầu ông H chỉ được thu hoạch cây còn đất phải trả lại cho gia đình nhưng ông H không chặt cây trả lại đất. Cụ V đã có đơn gửi UBND xã P và đã có biên bản hòa giải ngày 08/12/2023 không thành. Do vậy, cụ V khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông H, bà H1 phải thu hoạch cây trên đất nhà cụ V và trả lại quyền sử dụng đất cho gia đình theo đúng thửa đất đã được cấp, thửa số 39, tờ bản đồ số 9 diện tích là 1436m². Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của cụ V là ông T đề nghị ông H, bà H1 phải trả lại diện tích đất đã đo đạc thực tế là 1407,3 m² và di dời toàn bộ cây cối, tài sản khác trên diện tích đất này để trả lại cho cụ V.
Phía bị đơn ông Triệu Quang H, bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bố ông T là cụ Hoàng Minh C1 (đã chết) là cậu của ông bà nên ông bà gọi cụ V là mợ, gọi ông T là em nên có quan hệ anh em với nhau. Ông H, bà H1 là vợ chồng kết hôn năm 1981 và có 04 người con. Ông, bà đã biết nội dung cụ V đề nghị ông H phải thu hoạch cây trên đất và trả lại quyền sử dụng đất cho gia đình cụ V đã được cấp thửa đất số 39, tờ bản đồ số 9, diện tích 1436 m². Ông, bà không nhất trí với quan điểm này của cụ V với lý do đất đó là gia đình ông, bà khai phá, nhưng trên mảnh đất đó cũng có mảnh đất của gia đình cụ V nằm giữa đỉnh, chứ không phải là của gia đình ông bà hoặc gia đình cụ V có tất số thửa đất đó, bên đo đạc huyện không thông báo cho trưởng khu và người dân biết nên số đất đó đứng toàn tên cụ V trên bản đồ. Khi xã gọi ông, bà ra hòa giải thì ông trưởng khu cũng dự và người làm chứng là ông Bùi Văn T3 nói ông chỉ biết nhà cụ V có bãi trên đỉnh nhưng không biết diện tích là bao nhiêu. Khi ông, bà nhận được giấy báo của tòa là cụ V có đơn nhưng cụ V đã bị lẫn mấy năm nay, đơn khởi kiện là do con trai cụ V, mà khi cụ C1, cụ V còn sống đã chia đất rừng, ruộng cho hai con trai hai cụ rồi. Theo như lời khai của ông T khai đất là do cụ C1, cụ V cho ông, bà mượn nay ông H gọi Vĩnh Hằng bán là hoàn toàn sai. Bên đo đạc không chỉ dẫn người dân chỉ ranh giới nên bây giờ được ghi vào sổ địa chính đứng tên cụ V trên mảnh đất đó. Ranh giới giữa hai nhà vẫn có mảnh đất gia đình cụ V nằm giữa đỉnh, còn nhà ông, bà bao quanh. Cách đây khoảng 4-5 năm anh T4 có hỏi mua của gia đình ông, bà là 50.000.000đ nhưng ông, bà không bán. Đến tháng 8/2023, anh T4 có hỏi mua mảnh đất này sau khi xem bản đồ thì thấy rằng thửa đất này đang đứng tên cụ V. Anh T4 nói với ông, bà trả mảnh này 280.000.000đ chia đôi mỗi nhà 140.000.000đ, sau đó gia đình ông có gọi ông T hỏi ông T rằng ông, bà vẫn trồng cây trên đất từ năm 1984 đến nay cụ C1 và cụ V không tranh chấp nay đứng tên cụ V lại tranh chấp, ông T trả lời với gia đình ông là cụ C1 chết bây giờ tiền tỷ cũng không gọi cụ lên được còn cụ V thì lẫn. Anh chị nhiều đất, thì ông bà có bảo ông T là có lấy đất của bố mẹ ông T đâu thì ông T bỏ về bàn với anh em. Sau đó, ông T còn trả lời 05 anh em đi khai phá mảnh đất này trong khi đó em út của ông T sinh năm 1983 thì ông H có hỏi lúc đó em út của ông T mới một tuổi thì cầm cuốc để đi khai phá à. Ông T trả lời với ông H rằng 3.000.000đ ra tòa là xong. Đến chiều anh T4 có đến nhà ông đưa bản đồ rồi nói ông T không nhất trí 140.000.000₫ mà đòi 200.000.000đ chỉ cho gia đình ông, bà 80.000.000đ rồi chiều anh T4 lại xin ông, bà 50.000.000₫ để đập cho ông T 200.000.000đ nên các con của ông, bà không đồng ý. Đất này do gia đình ông bà khai phá từ năm 1984 từ đó đến nay ông, bà vẫn trồng cây bạch đàn. Vì đất khô cằn cây không lên được nên trồng cây tràm năm 2014 đến nay, gia đình ông T cũng trồng cây tràm, ranh giới vẫn có. Vì ông, bà không biết trên bản đồ vì anh T4 hỏi mua nên mới biết mảnh này chưa được cấp bìa. Vì trong sổ ông, bà có mảnh 1.031 m². Ông, bà vẫn tưởng mảnh này là mảnh đó. Còn mảnh 838,4 m² hiện đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông H, bà H1, còn mảnh tranh chấp với cụ V ông bà không biết diện tích bao nhiêu. Xin mời địa chính huyện, xã lên thực địa đo đạc mảnh nhà cụ V là bao nhiêu, còn đâu là của gia đình ông bà, còn nếu chưa được cấp bìa thì xin cấp bìa để trả lại sự công bằng cho người dân chứ không phải đo đạc nhầm mà lại của gia đình khác. Ông, bà yêu cầu Tòa án giải quyết công bằng cho gia đình ông, bà và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận của cụ V có cả đất của gia đình ông bà trên mảnh đất đó ông bà đang sử dụng để cấp bìa. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H, bà H1 không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của cụ V.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Anh Hoàng Trung T1, chị Hoàng Thị H2, chị Hoàng Thị Hồng T2, chị Hoàng Thị Hải N1, ông Hoàng Quốc T và đại diện theo ủy quyền của anh T1, chị H2, chị T2, chị N1 là ông Hoàng Quốc T trình bày: Cụ bà Tạ Thị V và cụ ông Hoàng Văn C là bố mẹ đẻ, cụ C chết năm 2017 và có 05 người con là ông T, anh N1, chị H2, anh T1, chị T2. Ngoài ra, cụ V và cụ C không có người con đẻ hay con nuôi nào khác. Về thửa đất đang tranh chấp số 39, tờ bản đồ 9, diện tích 1436 m² là của cụ V, cụ C khai hoang từ những năm 1980. Nay cụ V khởi kiện quan điểm đề nghị ông H, bà H1 phải trả lại toàn bộ diện tích đất cho gia đình. Đối với cây trồng trên đất buộc phải thu hoạch để trả lại đất cho gia đình. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của những người trên đề nghị ông H, bà H1 phải trả lại diện tích đất đã đo đạc thực tế là 1407,3 m² và di dời toàn bộ cây cối, tài sản khác trên diện tích đất này để trả lại cho cụ V.
Đại diện theo ủy quyền của UBND huyện P là ông Nguyễn Ngọc Q trình bày tại biên bản lấy lời khai, biên bản xác minh: Ngoài sự việc tranh chấp giữa gia đình cụ V với gia đình ông H tại thửa đất số 39, tờ bản đồ 9, diện tích 1436 m² thì không có sự tranh chấp với các hộ xung quanh khác đối với thửa đất này. Theo như bản vẽ đo đạc hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất do công ty cổ phần X đo đạc thì hiện trạng thửa đất thể hiện như sau: Diện tích đất theo bản đồ địa chính là S₁ = 1436 m²; Diện tích do ông Triệu Quang H chỉ khi đo đạc thực tế S₂ =2978,7 m²; Diện tích ông T trồng cây là 344 m²; diện tích đất nằm ngoài giấy chứng nhận là 799,6 m² và 771,7 m². Phần diện tích đất đang tranh chấp của thửa đất số 39 có chỉ giới 1',2',3',8,9,10,11,12,13,14, 4',5',6', 7', 8', 9', 22, 14', 15',16', 1'diện tích 1407,3 m² theo như nội dung tòa án đã xác minh tại UBND xã P là phù hợp. Phần diện tích đo đạc thực tế 1407,3 m² (Nêu trên) nằm trong thửa đất số 39, tờ bản đồ số 9, diện tích 1436 m², đất trồng cây lâu hằng năm khác mà UBND huyện P đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/12/2014 cho hộ bà Tạ Thị V. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Tạ Thị V là cấp cho hộ gia đình gồm cụ V, ông C và các con đẻ của cụ V, ông C. Việc cấp đất cho hộ cụ V năm 2014 là đúng pháp luật. Việc giao đất không thu tiền sử dụng đất tức là không phải nộp tiền sử dụng đất và lệ phí chức bạ. Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Đại diện UBND xã P do bà Nguyễn Thị H3 trình bày: Tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 716339 do UBND huyện P cấp cho ông Triệu Quang H, bà Nguyễn Thị H1 ngày 25/12/2014 có tổng 16 thửa dất gồm thửa đất số 35,59,74,87,91,108,169,172,186,201,218,253,315 cùng tờ bản đồ số 9; thửa đất số 588, tờ bản đồ số 10; thửa đất số 60, 84 tờ bản đồ số 4 đều có địa chỉ ở khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ trong số 16 thửa đất trên không có thửa đất số 39, tờ bản đồ số 9 diện tích 1436 m². Về vị trí thửa đất số 39, tờ bản đồ số 09 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 716963 do UBND huyện P cấp cho hộ bà Tạ Thị V ngày 25/12/2014.
Hiện nay, ngoài sự việc tranh chấp giữa gia đình cụ V với gia đình ông H tại thửa đất số 39, tờ bản đồ 9, diện tích 1436 m² thì không có sự tranh chấp với các hộ xung quanh khác đối với thửa đất này. Theo như bản vẽ đo đạc hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền với đất do công ty cổ phần X đo đạc thì hiện trạng thửa đất thể hiện như sau: Diện tích đất theo bản đồ địa chính là S₁ = 1436 m²; Diện tích do ông Triệu Quang H chỉ khi đo đạc thực tế S₂ = 2978,7 m²; Diện tích ông T trồng cây là 344 m²; diện tích đất nằm ngoài giấy chứng nhận là 799,6 m² và 771,7 m². UBND xã nhận thấy rằng phần diện tích đất ông H, bà H1 chỉ khi đo đạc chỉ đúng ở phần chỉ giới 8,9,10,11,12,13,14 và phần chỉ giới 9',22,14' (ông T nhất trí phần chỉ giới này và ông H, bà H1 đang sử dụng thực tế đến phần chỉ giới này). Còn các chỉ giới khác ông H, bà H1 chỉ không phù hợp sau khi đã ốp bản đồ địa chính vào hiện trạng. Như vậy, phần diện tích đất đang tranh chấp của thửa đất số 39 có chỉ giới 1',2',3',8,9,10,11, 12,13,14, 4',5',6',7,8',9', 22, 14', 15',16', l'diện tích 1407,3 m². Sự chênh lệch giữa diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1436 m² so với hiện trạng thực tế 1407,3 m² là phần diện tích 28,7 m². Phần diện tích đất này không đúng với hiện trạng sử dụng thực tế của gia đình cụ V, ông H. Quan điểm của bà H3 là đề nghị tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 3, khoản 1 Điều 236 luật đất đai 2024; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cụ Tạ Thị V.
Buộc ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1 trả lại cho cụ Tạ Thị V diện tích đất đo đạc thực tế 1407,3m² được giới hạn bởi các chỉ giới (1',2',3',8,9,10,11,12,13,14,4',5',6',7',8',9',22,14',15',16',1') tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BX716963 được UBND huyện P cấp ngày 25/11/2014.
Buộc ông H, bà H1 phải di dời toàn bộ cây tràm, cây bạch đàn và các tài sản khác trong phần diện tích 1407,3 m² được giới hạn bởi các chỉ giới (1',2',3',8,9,10,11,12,13,14,4',5',6',7',8',9',22,14',15',16',1') để trả lại nguyên trạng phần đất cho cụ Tạ Thị V quản lý, sử dụng
(Có bản vẽ đo đạc hiện trạng thửa đất kèm theo bản án).
Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo: Ngày 02/10/2024 ông Triệu Quang H, bà Nguyễn Thị H1 đều có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm:
- - Hủy bản án sơ thẩm và xét xử vụ án theo thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- - Không chấp nhận yêu cầu (Bác) yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích bà V đã kê khai đất của gia đình ông H (1.056 m2) để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà V (số sổ BX16963 cấp ngày 25/12/2014).
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn đề nghị sửa đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng diện tích đất là 1.063,3 m² do nguyên đơn đang trực tiếp quản lý sử dụng 344m².
Ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không đồng ý cho nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà H1 có ý kiến trình bày thống nhất với ý kiến của ông H, bà H1 và có ý kiến bổ sung:
Nguyên đơn không đưa ra được căn cứ chứng minh 1.056 m2 trong số 1436 m2 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2014 là hợp pháp, không chứng minh được việc cho bị đơn mượn đất, thừa nhận cây hiện có trên đất là của gia đình bị đơn. Ủy ban nhân dân huyện P không cung cấp được tài liệu gì để xác định 1.056 m2 đất của cụ V. Đơn xin cấp đổi của cụ V không đúng cả hình thức và nội dung, không đủ căn cứ pháp lý để xét cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ V năm 2014. Về tố tụng: Cấp sơ thẩm không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các con của ông H, bà H1 vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Nếu theo số liệu đo đạc thực tế thì phần tranh chấp là 1407 m2- 344 m2 (nguyên đơn đang sử dụng) = 1063 m2, nhưng khi phán quyết tòa án cấp sơ thẩm lại yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn diện tích 1047 m2 là hoàn toàn sai, vi phạm pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án của cấp sơ thẩm.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đều đề nghị sửa đổi một phần yêu cầu khởi kiện buộc ông H, bà H1 phải trả lại 1047,3 m2 - 344 m2 (nguyên đơn đang sử dụng) = 1063,3 m2 cho nguyên đơn là cụ Tạ Thị V. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông H, bà H1 phải trả lại diện tích đất là 1.063,3 m2 cho cụ Tạ Thị V.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng Thẩm phán,Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung:
Không chấp nhận kháng kháng cáo của bị đơn.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1 trả lại cho cụ Tạ Thị V diện tích đất 1063,3 m² tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BX716963 được UBND huyện P cấp ngày 25/11/2014. Giao cho cụ Tạ Thị V được sở hữu các tài sản trên đất là toàn bộ cây tràm, cây bạch đàn, toàn bộ các cây cối, lâm lộc khác, các tài sản khác trong phần diện tích 1063,3 m² nêu trên.
Ghi nhận cụ Tạ Thị V tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 11/4/2024. Ghi nhận ông H, bà H1 tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (lần 2) ngày 19/02/2025.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông H, bà H1.
(Chi tiết bài phát biểu lưu trong hồ sơ vụ án)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện VKSND tỉnh; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Kháng cáo của ông Triệu Quang H, bà Nguyễn Thị H1 là bị đơn được thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên đủ điều kiện xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung kháng cáo: Ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1 đề nghị: Hủy bản án sơ thẩm và xét xử vụ án theo thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ; Không chấp nhận yêu cầu (Bác) yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích bà V đã kê khai đất của gia đình ông H (1.056 m2)
Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định nguồn gốc thửa đất 39 tờ bản đồ số 9 mà các bên đang tranh chấp có nguồn gốc hình thành từ các thửa 136,139 tờ bản đồ số 7 (Bản đồ 299) và phần diện tích đất bao quanh 2 thửa đất này. Thửa 136, 139 tờ bản đồ số 7 đã được kê khai và đứng tên cụ Tạ Thị V trong sổ mục kê năm 1996 (trang 104 sổ mục kê) và đồng thời cùng năm 1996 cụ V đã được cấp GCNQSD đất đối với hai thửa đất này. Đến năm 2010, khi toàn xã P đo đạc lại thì căn cứ vào tình trạng sử dụng thực tế đã mở rộng phần diện tích sử dụng của cụ V đối với các phần khai hoang xung quanh thửa 136, 139 thành thửa 39 tờ bản đồ số 9 như hiện nay. Phần diện tích khai hoang được cụ V sử dụng từ năm 1980 tính đến năm 2010 khi đo đạc là 30 năm và cụ V đã được cấp đổi GCNQSD đất vào năm 2014. Cũng trong năm 1996, ông H, bà H1 được cấp GCNQSD, trong đó các thửa đất ông H, bà H1 được cấp không liên quan đến phần diện tích đất đang tranh chấp. Đến năm 2014, khi ông H, bà H1 được cấp lại GCQNSD đất cũng không có phần diện tích đất tranh chấp. Việc đo đạc năm 2010 và cấp GCNQSD đất năm 2014 diễn ra đồng loạt trên địa bàn xã P. Việc kê khai để cấp GCNQSD đất do chính ông H, bà H1 kê khai nhưng hai ông bà chỉ kê khai các thửa đất khác mà không kê khai phần diện tích đất đang tranh chấp. Gia đình ông H, bà H1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 16 thửa đất (bao gồm đất trồng cây hàng năm khác và đất chuyên trồng lúa nước) với tổng diện tích là 6677,8 m2, (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Triệu Quang H trước đây là 20 thửa, tổng diện tích đất nông nghiệp là 3933,0 m2), diện tích đất nông nghiệp tăng là 2744,8 m2.
Như vậy cả hai hộ khi kê khai năm 2010 thì đều kê khai cả phần diện tích đã được cấp GCNQSD đất và cả phần diện tích đất tăng do khai hoang và đã được đo đạc lại thành bản đồ địa chính hiện nay. Theo sổ mục kê năm 1996 thì thửa đất số 137, tờ bản đồ số 7, bản đồ 299, diện tích 120 m² là thửa đất trước đây do UBND xã P quản lý, đến năm 2014 đã đo đạc lại thành thửa số 35, tờ bản đồ số 9 diện tích 838,4 m2, tăng 718,4 m2 cũng được cấp đổi, cấp lại thành thửa đất của ông H, bà H1. Thửa đất số 35, tờ bản đồ số 9 nêu trên nằm ngay tiếp giáp với thửa đất số 39, tờ bản đồ số 9 của cụ V, ranh giới hai thửa đất được xác định rõ ràng theo bản đồ địa chính cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đo đạc từ năm 2010. Giữa hai thửa đất hiện nay không có diện tích đất hoang nào khác. Ông H, bà H1 cho rằng còn có diện tích đất khai hoang mà chưa đăng ký quyền sử dụng đất là không có căn cứ. Ông Triệu Quang H là người đã làm đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/10/2012 trong đó có sử dụng dữ liệu bản đồ địa chính đo đạc năm 2010, thửa 35, tờ bản đồ số 9 là 838,4 m2, phù hợp với ranh giới thửa đất số 39, tờ bản đồ số 9. Việc ông H tự làm đơn kê khai và ký tên trong hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất được bản thân ông xác nhận lại tại phiên toà phúc thẩm. Khi được nhận giấy chứng nhận ông H, bà H1 đã không có ý kiến, khiếu nại gì đối với cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H, bà H1 cho rằng khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót nên gia đình không có khiếu nại gì, ý kiến của ông H, bà H1 nêu trên là không phù hợp vì thời điểm đo đạc, cấp GCNQSD là đồng loạt và đều được niêm yết công khai, chính ông H là người làm đơn kê khai cấp đất nên việc ông H, bà H1 trình bày không biết là không hợp lý.
Đối với một số tài liệu phát sinh tại cấp phúc thẩm gồm: Lời khai của người mua cây, lời khai của các hộ dân canh tác gần khu vực đang tranh chấp chỉ thể hiện nội dung ông bà H1, Hội có trồng cây và khai thác gỗ tại khu vực đồi Kho, không thể hiện cụ thể ông bà Hội H1 trồng cây và khai thác gỗ tại thửa đất nào. Lời khai của những người làm chứng phù hợp với thực tế là ông bà Hội H1 có đất tại đồi Kho, là các thửa đất khác, không có giá trị chứng minh phần diện tích đất đang tranh chấp do ông bà Hội H1 khai hoang và đã khai thác gỗ nhiều năm như phía bị đơn trình bày.
Ủy ban nhân dân huyện P cũng đã có ý kiến về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ cụ V là đúng pháp luật. Theo Biên bản xác minh ngày 16/6/2025, Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ do ông Nguyễn Ngọc Q là người đại diện theo ủy quyền cung cấp thông tin: Thực hiện kế hoạch đo đạc của Ủy ban nhân dân tỉnh P đối với xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, tiến hành đo đạc từ năm 2010, sau khi đo đạc hiện trạng sử dụng đất của các hộ dân không có tranh chấp, căn cứ kết quản đo đạc, các hộ dân làm đơn đăng ký, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm đo đạc và đăng ký quyền sử dụng đất hai bên đều không có tranh chấp, hai bên đều nhất trí với số liệu đo đạc bản đồ địa chính mới nên đã đăng ký theo số liệu của bản đồ địa chính mới, diện tích đăng ký quyền sử dụng đất không có tranh chấp, không xâm phạm vào quỹ đất công ích của xã nên các bên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định của pháp luật. Loại đất các bên đăng ký quyền sử dụng đất là đất trồng cây hàng năm, tại thời điểm đo đạc không có tranh chấp về cây trên đất.
Vì vậy không có căn cứ để hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích bà V đã kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà V (số sổ BX16963 cấp ngày 25/12/2014). Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã giải quyết, xét xử sơ thẩm vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất đúng theo thẩm quyền.
Đối với yêu cầu đề nghị bổ sung 04 người tham gia tố tụng gồm các chị Triệu Thị Thu H4, Triệu Thu T5, Triệu Thị Thu T6, Triệu Thị Hằng T7:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Ông H, bà H1 trình bày kết hôn năm 1981 và bắt đầu khai hoang diện tích đất đang tranh chấp từ năm 1984 đến nay. Các con của ông H, bà H1 lần lượt sinh các năm 1985, 1987, 1989 và 1991 nên không thể cùng ông bà Hội, H1 tham gia khai hoang phần diện tích đất này được. Trong các tài liệu phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm, các chị H4, T5, T6, T7 trình bày các chị cùng bố mẹ khai hoang, sử dụng phần diện tích đất tranh chấp là không có căn cứ. Đồng thời, trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm ông H bà H1 cũng không trình bày về việc bốn chị tham gia trồng cây cùng ông bà trên mảnh đất tranh chấp, không đề nghị đưa các chị vào tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm. Tại giai đoạn phúc thẩm, các chị chỉ có đơn trình bày nhưng cũng không có tài liệu gì chứng minh nên không có căn cứ đưa những người này tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ để Hủy bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Tuy nhiên diện tích nguyên đơn đang sử dụng thực tế là 344 m2, cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải trả lại 1.407,3 m2 bao gồm cả 344 m2 theo yêu cầu của nguyên đơn tại cấp sơ thẩm là không phù hợp với thực tế. Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn đề nghị sửa đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng diện tích đất là 1.407,3m2 - 344 m2 = 1.063,3 m2 nhưng bị đơn không đồng ý việc sửa đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử vẫn xét xử và sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả lại quyền sử dụng 1.063,3 m2 đất trồng cây hàng năm cho nguyên đơn. Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm phía nguyên đơn có nộp tài liệu mới là đơn đề nghị thanh toán các cây cối do bị đơn trồng trên phần diện tích đất đang tranh chấp. Xét thấy, các cây này đang trong quá trình sinh trưởng chưa đến kỳ thu hoạch, nếu buộc phải di dời sẽ làm ảnh hưởng giá trị của các cây này nên giao cho nguyên đơn tiếp tục quản lý, sử dụng và thanh toán tiền cho bị đơn. Mặt khác tại cấp phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ở giai đoạn sơ thẩm. Đây là những tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên sửa bản án sơ thẩm.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho cụ Tạ Thị V, ông Triệu Quang H, bà Nguyễn Thị H1 vì đều là người cao tuổi.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm vì đều là người cao tuổi.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Các đương sự phải chịu chi phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các bị đơn đều tự nguyện chịu số tiền chi phí đã nộp nên được xác nhận.
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 3, khoản 1 Điều 236 luật đất đai 2024; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, khoản 2 Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cụ Tạ Thị V.
- - Buộc ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1 trả lại cho cụ Tạ Thị V diện tích đất 1063,3 m² được giới hạn bởi các chỉ giới (1',2',3',8,9,10,11,12,13,14,4',5',31,30,29,28,27,33,32,8',9',22,14',15',16',1') tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: khu I, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BX716963 được UBND huyện P cấp ngày 25/11/2014.
- - Giao cho cụ Tạ Thị V được sở hữu các tài sản trên đất là toàn bộ cây tràm, cây bạch đàn, toàn bộ các cây cối, lâm lộc khác, các tài sản khác trong phần diện tích 1063,3 m² được giới hạn bởi các chỉ giới (1',2',3',8,9,10,11,12,13,14,4',5',31,30,29,28,27,33,32,8',9',22,14',15',16',1') (Có bản vẽ của Công ty cổ phần X đo đạc hiện trạng thửa đất, kèm theo bản án).
- Cụ Tạ Thị V có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản trên đất cho ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1 là 10.227.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Xác nhận cụ Tạ Thị V đã nộp đủ và tự nguyện chịu 12.700.000 đồng (Mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 11/4/2024. Xác nhận ông H, bà H1 đã nộp đủ và tự nguyện chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ (lần 2) ngày 19/02/2025.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Tạ Thị V, ông Triệu Quang H, bà Nguyễn Thị H1.
- Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Triệu Quang H và bà Nguyễn Thị H1 vì đều là người cao tuổi.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Chi |
Bản án số 58/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 58/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cụ Tạ Thị V khởi kiện ông Triệu Quang H về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất và được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
