Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2025/DS-PT

Ngày: 27-3-2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dư Thành Trung

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Công Hoàn

Ông Hoàng Rung K'Nhơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Huyền Trang- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Công- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 291/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Di Linh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2025/QĐ-PT ngày 21/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐ-ST ngày 20/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2025/QĐ-ST ngày 12/3/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Số C L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

Bị đơn: Bà Mai Thị B, sinh năm 1975; ông Lê Thành N, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Lê Thành N- Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai bà Đoàn Thị T trình bày:

Ngày 15-5-2023, bà Mai Thị B vay bà số tiền 2.500.000.000đ để đáo hạn Ngân hàng, hai bên thỏa thuận lãi 1.300/1 triệu/ ngày, hẹn trả trong vòng 02 ngày. Sau khi nhận tiền bà B viết giấy vay tiền và ký nhận nợ. Quá trình thực hiện bà B đã trả được 1.300.000.000đ, còn nợ lại 1.200.000.000đ.

Ngày 28-8-2023, bà B vay tiếp bà số tiền 2.000.000.000đ để đáo hạn Ngân hàng, thoả thuận lãi suất 1.300đ/1 triệu/ngày, hẹn trả trong vòng 02 ngày. Số tiền này bà chuyển khoản. Sau khi nhận được tiền bà B viết giấy vay tiền và ký nhận nợ nhưng đến nay chưa trả. Bà xác định, bà B vay tiền để đáo hạn Ngân hàng và làm ăn kinh tế trong thời kỳ hôn nhân nên đây là khoản nợ chung của vợ chồng bà Mai Thị B, ông Lê Thành N.

Nay bà yêu cầu vợ chồng bà B, ông N trả số tiền gốc 3.200.000.000đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 28-8-2023 đến nay theo mức lãi suất 1,66%/tháng làm tròn 12 tháng 15 ngày thành tiền 664.000.000đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 3.864.000.000đ.

Bà T thống nhất với các bản in sao kê tài khoản của bà B. Tuy nhiên, tại bản kê số tiền bà B đã chuyển cho bà thì có một số khoản bà B chuyển dùm cho bà chứ không phải nằm trong số tiền vay mượn, bà không đồng ý giảm lãi cho bà B.

Tài liệu, chứng cứ chứng minh: 01 Giấy vay tiền viết tay bản chính ghi ngày 15/5/2023 trên giấy kẻ ô ly, một mặt có chữ ký ghi họ tên người vay tiền Mai Thị B; 01 Giấy báo nợ của Ngân hàng TMCP Đ- Chi nhánh B1- Phòng G ghi ngày 28-8-2023, thời gian ký ngày 11/01/2024; 01 Chứng từ giao dịch số 55 ghi ngày 07-4-2023 của Ngân hàng N1- Chi nhánh D1; 01 Chứng từ giao dịch số 73 ghi ngày 07-4-2023 của Ngân hàng N1- Chi nhánh D1 và 01 Sổ phụ tên khách hàng Đỗ Thị P tại Ngân hàng N1- Chi nhánh D1.

* Theo lời khai, lời trình bày của bà Mai Thị B và ông Lê Ngọc T1, đại diện theo uỷ quyền của bà Mai Thị B trình bày:

Khoản nợ của bà T là khoản nợ riêng của bà, không liên quan đến ông N chồng bà B. Toàn bộ quá trình vay và trả tiền giữa bà B và bà T thông qua các tài khoản Ngân hàng A, B2 và MB của bà Mai Thị B. Ngoài ra, còn giao nhận tiền trực tiếp bằng tiền mặt. Tính đến ngày 28-8-2023, bà B còn nợ bà T số tiền 3.200.000.000đ và bà B đã trả cho bà T được 200.000.000đ, hiện chỉ còn nợ bà T số tiền 3.000.000.000đ và đồng ý trả số tiền gốc và xin bà T số tiền lãi.

Tài liệu chứng cứ chứng minh: 01 sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ báo có từ ngày 01-5-2022 đến ngày 30-4-2023 của Ngân hàng Q; 01 bản sao kê tài khoản tiền gửi khách hàng từ ngày 01-5-2022 đến 10-9-2023 của Ngân hàng Đầu tư và 01 sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ báo có từ ngày 01-5-2022 đến ngày 10-9-2023

* Theo lời trình bày của bị đơn ông Lê Thành N thì:

Ông và bà B đã sống ly thân, không liên quan đến khoản vay của bà T nên không đồng ý trả nợ cho bà T.

Tại Bản án sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Đoàn Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với bà Mai Thị B và ông Lê Thành N.

Buộc bà Mai Thị B và ông Lê Thành N có trách nhiệm trả cho bà Đoàn Thị T số tiền 3.864.000.000đ.

Bà T trả lại cho bà Mai Thị B 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 762300, BV 037486 và BL 215990.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí trách nhiệm thi hành án quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26-9-2024, ông Lê Thành N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị T về việc xác định ông và bà Mai Thị B nợ chung bà Đoàn Thị T số tiền gốc 3.200.000.00 đồng. Tuyên xác định là khoản nợ riêng của bà Mai Thị B không liên quan đến ông.

Tại phiên tòa,

Bị đơn ông Lê Thành N giữ nguyên kháng cáo.

Bà Mai Thị B xác nhận đây là khoản nợ riêng của bà đối với bà T không liên quan gì đến chồng bà là ông Lê thành N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa các bên đương sự xác định số tiền vay là 3.200.000.000 đồng. Đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 BLTTDS. Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền vay nợ này là đúng quy định. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là nợ chung của vợ chồng bà B và ông N là không có cơ sở bởi lẽ nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ để xác định đây là nợ chung của vợ chồng ông N, bà B; số tiền trên bà B vay bà T trong thời gian vợ chồng bà B ông N sống ly thân, ông N không nhận tiền cũng như ký xác nhận khoản vay này. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông N sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định đây là khoản nợ riêng của bà B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xuất phát từ việc bà Đoàn Thị T khởi kiện yêu cầu bà Mai Thị B, ông Lê Thành N trả số tiền gốc 3.200.000.000đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 28-8-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 1,66%/tháng làm tròn 12 tháng 15 ngày thành tiền 664.000.000đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 3.864.000.000đ. Còn bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện nên các bên phát sinh tranh

chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn Lê Thành N thấy rằng:

[2.1] Ngày 15-5-2023 và ngày 28-8-2023, giữa bà T, bà B có thỏa thuận vay mượn tiền với tổng số tiền chốt nợ đến ngày 28-8-2023 là 3.200.000.000 đồng. Các bên thỏa thuận lãi suất là 1.300/1 triệu/1 ngày, hẹn trả trong vòng 02 ngày. Xét đây là những tình tiết được các bên thừa nhận nên không phải chứng minh theo Điều 92 BLTTDS. Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền gốc bà B đã vay của bà T là 3.200.000.000 đồng và áp dụng mức lãi suất là 1,66%/1 tháng tính từ ngày 28-8-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật (lãi suất có thỏa thuận không vượt quá 20%/năm).

[2.2] Bị đơn ông N kháng cáo cho rằng ông và bà B đã sống ly thân, ông không liên quan đến khoản vay của bà T nên không đồng ý trả nợ cho bà T. Xét thấy, thời điểm bà B vay tiền của bà T thì ông N và bà B có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà B vay tiền để đáo hạn ngân hàng và phát triển kinh tế gia đình. Tại phiên tòa phúc thẩm bà B và ông N không xuất trình được tài liệu, chứng cứ bằng văn bản về việc vợ chồng có thỏa thuận bà B vay tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân nên không có cơ sở để xem xét. Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là nợ chung của vợ chồng bà B và ông N phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

[2.3] Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Lê Thành N và đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phúc thẩm.

[2.4] Đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 40/2024/QĐ-BPKCTT ngày 27-5-2024 của TAND huyện Di Linh sẽ được xử lý theo Điều 138 BLTTDS.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Thành N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Thành N.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 57/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Đoàn Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với bà Mai Thị B và ông Lê Thành N.

    Buộc bà Mai Thị B và ông Lê Thành N có trách nhiệm trả cho bà Đoàn Thị T số tiền 3.864.000.000đ (ba tỷ tám trăm sáu mươi bốn triệu đồng) (trong đó tiền gốc là 3.200.000.000 đồng, tiền lãi là 664.000.000đ).

    Bà T có trách nhiệm trả lại cho bà Mai Thị B 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 762300 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Lê Văn K ngày 03-3-2009 đã được đăng ký biến động sang tên cho bà Mai Thị B, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 077486 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Đặng Thanh V, bà Hồ Thị C ngày 21-10-2014 đã được đăng ký biến động sang tên cho bà Mai Thị B; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL215990 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho ông Nguyễn Đức T2, bà Nguyễn Thị D ngày 05-9-2012 đã được đăng ký biến động sang tên cho bà Mai Thị B.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự

  2. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:

      Buộc bà Mai Thị B và ông Lê Thành N phải chịu 109.280.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

      Hoàn trả lại cho bà Đoàn Thị T số tiền 50.354.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005683 ngày 27-3-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh.

    • - Án phí dân sự phúc thẩm:

      Buộc ông Lê Thành N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004250 ngày 18-10-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh (ông N đã nộp đủ).

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành Án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Tòa án huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu án văn; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dư Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/DS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 58/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án Sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger