Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 58/2025/DS-PT

Ngày: 04 - 4 - 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, phạt

cọc và lãi suất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Tiến Hiệp
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Thư
Ông Lê Viết Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 227/2024/TLPT-DS ngày 09/12/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, phạt cọc và lãi suất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 19/2024/QĐXXPT-DS ngày 06 tháng 01 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị N sinh năm 1962; trú tại: Tổ A, khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1969 và bà Đỗ Thị C, sinh năm 1978; cùng trú tại: Đ, ấp D, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Văn K: Ông Đặng Văn N1, sinh năm 1979; trú tại: Thôn F, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. (Có mặt)

* Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc, hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:

Ngày 19/4/2021 bà Lê Thị N có giao kết hợp đồng đặt cọc với ông Lê Văn K (là em ruột bà N) và bà Đỗ Thị C để nhận chuyển nhượng của ông K, bà C diện tích 500m² đất nông nghiệp và 50m² đất ở, có kích thước chiều ngang 10m và chiều dài 60m, đất này đã có Giấy CNQSDĐ, đất tọa lạc tại đội 4, ấp D, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Đất có vị trí: phía Đông giáp đất của bà Lê Thị Thảo T; phía Tây giáp đất của bà Hoàng Thị H; phía Nam giáp đường đi và phía Bắc giáp phần đất còn lại của ông Lê Văn K. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng diện tích đất này là 800.000.000 đồng. Ông K đã nhận tổng số tiền 650.000.000 đồng gồm ngày 19/4/2021 nhận số tiền 370.000.000 đồng tiền đặc cọc và ngày 28/10/2021 nhận thêm 280.000.000 đồng. Bà N thanh toán bằng cách nhờ chị Nguyễn Thị Vân A chuyển khoản của cho ông K số tiền 80.000.000 đồng và ông Nguyễn Đình C1 chuyển cho ông K qua dịch vụ xe ô tô số tiền 570.000.000 đồng để ông K mua xe hơi. Số tiền còn lại không hẹn ngày nào trả, không hẹn ngày công chứng, nhưng hai bên có thỏa thuận bằng miệng lúc nào giao đất công chứng thì bà N giao hết số tiền 150.000.000 đồng còn lại cho ông K, bà C. Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc, ông K đã không giao đất cho bà N với lý do đất đang tranh chấp.

Bà N khởi kiện yêu cầu:

Ông K và bà C phải chịu phạt gấp đôi số tiền đặt cọc 370.000.000 đồng theo hợp đồng đặt cọc ngày 19/4/2021 thành tiền là 740.000.000 đồng.

Ông K, bà C phải trả lại bà N số tiền 280.000.000 đồng ông Kiểm nhận ngày 28/10/2021 và tiền lãi với lãi suất 9,6%/năm trên số tiền này, thành tiền là 71.680.000 đồng tính đến ngày làm đơn khởi kiện bổ sung 27/6/2024.

Tổng cộng số tiền bà N yêu cầu ông K, bà C phải trả cho bà N tính đến ngày 27/6/2024 là 1.091.680.000 (Một tỷ, không trăm chín mươi mốt triệu, sáu trăm tám mươi nghìn) đồng. Kể từ ngày 29/6/2024 trở đi ông K và bà C tiếp tục phải trả cho bà N tiền lãi với lãi suất 9,6%/năm trên số tiền 1.091.680.000 đồng cho đến khi trả xong.

Bị đơn ông Lê Văn K - đại diện theo ủy quyền ông Đặng Văn N1 trình bày:

Vào ngày 19/4/2021 ông K, bà C có giao kết đồng đặt cọc với bà Lê Thị N (là chị ruột ông K) có nội dung như bà N trình bày. Khi lập hợp đồng đặt cọc, bà N cùng ông K đã làm thủ tục đo đất để tách thửa cho bà N và có sơ đồ đo đạc ông K đã cung cấp cho Tòa án theo diện tích thống nhất chuyển nhượng của hai bên. Giá thỏa thuận là 800.000.000 đồng, ông K đã nhận 650.000.000 đồng vào các ngày 19/4/2021 số tiền 370.000.000 đồng là tiền cọc và ngày 28/10/2021 nhận thêm là 280.000.000 đồng là số tiền bà N tự gửi cho ông K. Số tiền còn lại không hẹn ngày nào trả, không hẹn ngày công chứng.

Nay bị đơn ông K không đồng ý trả bà N số tiền cọc 370.000.000 đồng ngày 19/4/2021 và phạt cọc 370.000.000 đồng theo yêu cầu của bà N. Lý do ông K đã làm thủ tục tách thửa cho bà N và ra Văn phòng công chứng để lập hợp đồng chuyển nhượng nhưng khi ra Văn phòng công chứng thì bà N nghe nói bà N có tên trong sổ hộ khẩu với ông K nên không tiếp tục giao kết hợp đồng mà bà N sẽ khởi kiện ông K trong vụ án khác. Do đó, việc hai bên không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng và giao đất cho bà N là lỗi của bà N.

Đối với khoản tiền 280.000.000 đồng tiền bà N tự chuyển nhờ ông K giữ hộ, không liên quan đến vụ án nên bà N phải đòi riêng, không được đòi chung vụ án. Hiện giờ ông K vẫn có thiện chí giao đất cho bà N.

Tại bản tự khai bị đơn bà Đỗ Thị C trình bày:

Bà C có nghe thông tin chồng bà là ông K chuyển nhượng cho bà N diện tích 500m² đất, trong đó có 50m² đất thổ cư, số tiền lần đầu nhận là 370.000.000 đồng và bà N có yêu cầu bà C ký vào giấy đặt cọc, việc ông Kiểm nhận tiền lần một và lần hai bà C không có ý kiến gì, bà C không trực tiếp giao dịch, bà C thống nhất với ý kiến của ông K. Do bận việc nên bà C xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị Vân A trình bày:

Bà A là cháu ruột bà N. Bà chỉ là người chuyển tiền từ con bà N qua ông K, không có liên quan gì trong vụ án. Bà A có đơn xin vắng mặt.

Người làm chứng ông Nguyễn Đình C1 trình bày:

Ông C1 là cháu ruột bà N. Ông chỉ là người chuyển tiền từ con bà N qua ông K, ông không có quyền nghĩa vụ gì trong vụ án. Ông C1 có đơn xin vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N.

    Buộc bị đơn ông Lê Văn K và bà Đỗ Thị C phải trả lại cho bà Lê Thị N số tiền 280.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi triệu đồng).

  2. Bác yêu cầu của bà Lê Thị N yêu cầu bị đơn ông Lê Văn K và bà Đỗ Thị C2 trả số tiền đặt cọc 370.000.000 và bồi thường cọc số tiền cọc 370.000.000 đồng, tổng cộng là 740.000.000 đồng và lãi suất 9,6%/năm của số tiền 280.000.000 đồng (từ ngày 28/10/2021 đến 27/6/2024) là 71.680.000 đồng.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBNVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    1. Nguyên đơn bà Lê Thị N phải chịu án phí đối với số tiền không được chấp nhận là 36.350.400 đồng án phí có giá ngạch, tuy nhiên do bà N là người cao tuổi nên được miễn án phí.
    2. Bị đơn ông Lê Văn K, bà Đỗ Thị C phải chịu 14.000.000 đồng án phí có giá ngạch đối số tiền buộc phải trả lại cho nguyên đơn.

    (Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án chậm thi hành án thì ngoài số tiền phải trả còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án).

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 7/10/2024 nguyên đơn bà Lê Thị N có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bản án sơ thẩm số 74/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:

- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, tuyên sửa Bản án sơ thẩm, buộc bị đơn trả lại số tiền cọc 370.000.000 đồng cho nguyên đơn; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự không chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Quyết định Bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần phạt cọc và tiền lãi của số tiền 280.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị N, ông Lê Văn K và bà Đỗ Thị C thống nhất ngày 19/4/2021 bà N có giao kết hợp đồng đặt cọc với ông K và bà C để bà N nhận chuyển nhượng của ông K, bà C diện tích 500m² đất trồng cây lâu năm và 50m² đất ở, chiều ngang 10m và chiều dài 60m, đất có Giấy CNQSDĐ đứng tên ông K, địa chỉ thửa đất tại đội D, ấp D, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; vị trí đất: phía Đông giáp Lê Thị Thảo T; phía Tây giáp Hoàng Thị H; phía Nam giáp đường đi và phía Bắc giáp đất ông Lê Văn K. Hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 800.000.000 đồng, ông K đã nhận 650.000.000 đồng gồm ngày 19/4/2021 nhận 370.000.000 đồng tiền đặt cọc và ngày 28/10/2021 nhận thêm 280.000.000 đồng. Số tiền còn lại hai bên không hẹn ngày nào trả, không hẹn ngày công chứng, nhưng có thỏa thuận bằng miệng lúc nào giao đất công chứng thì bà N giao hết số tiền còn lại 150.000.000 đồng cho ông K, bà C.

[2] Sau khi nhận tiền đặt cọc, ngày 24/12/2021 ông K đã thực hiện thủ tục đo đạc tách thửa đất để đủ điều kiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng cho bà N, tuy nhiên bà N không đồng ý nhận đất. Quá trình giải quyết vụ án, bà N cho rằng bà không biết gì về thủ tục đo đạc do ông K đã thực hiện, bà chưa từng nhìn thấy bản trích đo ông K đưa cho. Ông K cũng không chứng minh được việc các bên thực hiện thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như thế nào, các bên có báo cho nhau thời gian, địa điểm, phương thức giao kết hợp đồng hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng bà N, ông K và bà C có giao kết hợp đồng đặt cọc để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng các bên không nêu rõ thời gian thực hiện hợp đồng; các bên cũng không chứng minh được mình đã thực hiện các nghĩa vụ để đảm bảo việc giao kết hợp đồng như thế nào và cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh bên kia có lỗi trong việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không thực hiện được, trong khi vị trí đất các bên thỏa thuận chuyển nhượng không rõ ràng và thửa đất có tranh chấp. Do đó, hai bên cùng có lỗi trong việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không thực hiện được. Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự và điểm d mục I Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, trường hợp hai bên cùng có lỗi thì các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận và không phạt cọc. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà N về việc buộc ông K bà C chịu phạt cọc là có căn cứ, nhưng ông K bà C phải trả lại cho bà N số tiền 370.000.000 đồng bà N đã đặt cọc trước đó. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà N chịu mất tiền đặt cọc là chưa phù hợp.

[3] Đối với số tiền 280.000.000 đồng là tiền bà N trả cho ông K, bà C ngày 28/10/2021 là tiền thanh toán để nhận chuyển nhượng đất. Tuy nhiên, hợp đồng không được giao kết nên cần buộc ông K, bà C phải trả lại cho bà N khoản tiền này.

[4] Đối với yêu cầu tính lãi với lãi suất 9,6%/năm trên số tiền 280.000.000 đồng từ ngày 28/10/2021 đến ngày 27/6/2024 là 71.680.000 đồng của nguyên đơn: xét thấy các bên không thỏa thuận đây là tiền vay và lãi suất nên không có cơ sở xem xét tính lãi theo yêu cầu của bà N.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên án phí dân sự sơ thẩm được tính lại theo quy định. Ngoài ra, bà N là người cao tuổi nên được miễn án phí.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà N được chấp nhận nên bà N không phải chịu.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị N;

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147, Điều 148 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các điều 119, 328; 351, 363 và Điều 364 Bộ luật Dân sự năm 2015;

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị N;

    Buộc bị đơn ông Lê Văn K và bà Đỗ Thị C phải trả lại cho bà Lê Thị N số tiền 370.000.000 đồng tiền đặt cọc và 280.000.000 đồng tiền trả trước. Tổng cộng 650.000.000 (Sáu trăm năm mươi triệu) đồng.

  2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị N đối với yêu cầu bị đơn ông Lê Văn K và bà Đỗ Thị C trả cho bà N tiền lãi với lãi suất 9,6%/năm trên số tiền 280.000.000 đồng (từ ngày 28/10/2021 đến 27/6/2024) là 71.680.000 đồng.
  3. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Lê Thị N được miễn án phí;

    Bị đơn ông Lê Văn K, bà Đỗ Thị C phải chịu 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

  5. Án phí dân sự phúc thẩm: bà N không phải chịu.
  6. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - TAND huyện Đồng Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa DS. (9)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Tiến Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng đặt cọc, phạt cọc và lãi suất

  • Số bản án: 58/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, phạt cọc và lãi suất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Bà Lê Thị Nhường Bị đơn: Ông Lê Văn Kiểm và bà Đỗ Thị Chiến
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger