Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 27 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mai Xuân Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Khâm

Ông Nguyễn Văn Chuyết.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Trung Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định và điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện T xét xử sơ thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐ-HSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Xuân L, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm V, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá H (đã chết); con bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1963; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ Trần Thị T (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con bé sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 27 tháng 5 năm 2024 đến ngày 02 tháng 6 năm 2024, chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Xuân T1, anh Bùi Quang H1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 27 tháng 5 năm 2024, L mang theo 200.000 đồng đi bộ từ nhà đến khu vực đường Đ thuộc xóm M, xã V, huyện T tìm mua ma túy sử dụng. L gặp người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi ngồi một mình trên xe máy ở vệ đường đê bên dưới gầm cầu L. Nghĩ người này có ma túy bán, L đến hỏi mua 200.000 đồng, được 01 gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Biết đúng là ma túy cần mua, L cầm ở tay trái rồi đi bộ về tìm nơi sử dụng. Khi L đi đến khu vực đường Đ xã V huyện T thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang hồi 18 giờ 20 phút cùng ngày.

Vật chứng thu giữ:

L tự giác giao nộp 01 gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. L khai là H2 vừa mua, mục đích sử dụng cho bản thân được niêm phong ký hiệu M.

Bản kết luận giám định số 1005/KL-KTHS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine, khối lượng mẫu M: 0,172 gam.

Tại cơ quan CSĐT Công an huyện T, Trần Xuân L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho L ngày 27 tháng 5 năm 2024, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được là ai để xử lý.

Bản cáo trạng số 48/CT-VKS-TN ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh truy tố Trần Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Xuân L theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 5 năm 2024.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì của mẫu vật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

    Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố vụ án đều đúng quy định pháp luật.

  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 27 tháng 5 năm 2024, Trần Xuân L có hành vi cất giấu trái phép 0,172 gam Heroine trong người, mục đích để sử dụng bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang tại xóm M, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định.

    Hành vi tàng trữ 0,172 gam Heroine của Trần Xuân L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, như cáo trạng của VKSND huyện Trực Ninh truy tố bị cáo về tội danh, điều luật là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. [3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, HĐXX xét thấy: Bị cáo Trần Xuân L đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động mua bán, sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, thể hiện việc xem thường pháp luật, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Do đó cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi của bị cáo và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

  4. [4] Về tình tiết giảm nhẹ: HĐXX xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

  5. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.

  6. [6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  7. [7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số Heroine còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì của mẫu vật được thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng số 35/THA ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh.

  8. [8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

    Xử phạt Trần Xuân L 15(mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam, ngày 27 tháng 5 năm 2024.

  2. 2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì của mẫu vật được thể hiện trong biên bản giao nhận vật chứng số 55/THA ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh.

  3. 3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Xuân L phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  4. 4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định (1 bản);
  • - VKSND huyện Trực Ninh (2 bản);
  • - Công an huyện Trực Ninh (2 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh (1 bản);
  • - UBND xã Việt Hùng (1 bản);
  • - Lưu HSVA (2 bản);
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Xuân Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger