Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG HÒA

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 06 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Long và ông Nông Vĩnh Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Trường P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01/02/1996, tại xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông;

Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề;

Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1969 và con bà Ngô Thị Thái H, sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có. Tiền sự: Không có;

Tiền án: Ngày 27/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 17/2022/HSST.

Đặc điểm nhân thân:

  • + Ngày 31/12/2021 bị Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 1.500.000 đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản".

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)

* Người làm chứng: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/8/2024 Tổ công tác Đội hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện Q chủ trì phối hợp với các cơ quan liên ngành trên địa bàn thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại thị trấn T. Khi đến nhà của Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985 thuộc Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng thì phát hiện Hoàng Văn T, sinh năm 1996, có hộ khẩu thường trú tại: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông đang ngồi trên nền nhà trong phòng khách có biểu hiện nghi vấn thực hiện hành vi phạm tội về ma túy. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra thì T bỏ chạy, đồng thời ném 05 (năm) gói nhỏ đang cầm trong tay trái, cụ thể: Ném xuống nền nhà 01 (một) gói được gói bằng tờ tiền mệnh giá 2.000₫ (Hai nghìn đồng), ném qua lỗ gạch ra sau nhà 03 (ba) gói được gói bằng giấy bạc màu vàng và 01 (một) gói được gói bằng vỏ nilon được hàn nhiệt, mở ra là lớp giấy bạc màu vàng, bên trong tất cả các gói đều chứa chất bột màu trắng. T khai nhận 05 (năm) gói nhỏ chứa chất bột màu trắng là ma túy loại heroine T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành mời người chứng kiến, đại diện chính quyền địa phương và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, khám nghiệm hiện trường, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 (một) xilanh; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HOIVIDA, màu đen, biển kiểm soát 11B1-003.04, số khung 001555, số máy 516555, không có gương chiếu hậu hai bên, xe cũ đã qua sử dụng.

Hồi 08 giờ 30 phút ngày 08/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ được của Hoàng Văn T là 0,404g (không phẩy bốn không bốn gam). Sau khi cân, đã tiến hành gửi toàn bộ vật chứng đến Phòng K Công an tỉnh C để giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 477/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh C đã kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H2), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”

Quá trình điều tra, Hoàng Văn T khai nhận: Khoảng đầu tháng 7 năm 2024 Thư từ nhà ở Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông đến huyện T, tỉnh Cao Bằng để thăm họ hàng. T ở tại nhà anh Hoàng T2 L (sinh năm 1988 - là họ hàng của T) một thời gian, đến ngày 04/8/2024 T thuê xe ôm sang thị trấn T, Q. Tại đây, T có nói chuyện và làm quen với Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn T, Q và nhờ Q mua giúp một chiếc xe máy để đi lại. Khoảng 10 giờ ngày 07/8/2024 T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11B1-003.04 (xe Quyền mua giúp) đi từ thị trấn T, Q đến chợ T3, T mục đích tìm mua ma túy. Đến nơi gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) có đặc điểm của

3

người nghiện ma túy. T hỏi mua ma túy với người này với giá 1.000.000,₫ (một triệu đồng), người đàn ông đồng ý. Sau khi nhận tiền, người này chỉ vào cục đá gần đấy nói "để ở dưới". Thư lật cục đá lên thì thấy 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, T cầm lấy gói ma túy rồi đi về. Trên đường về, T dừng lại mở gói giấy bạc màu vàng ra thấy bên trong có 05 (năm) gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu vàng. Thư lấy 01 (một) gói nhỏ mở ra, lấy một phần ra để sử dụng bằng hình thức chích, sau đó gói số ma túy còn lại vào tờ tiền mệnh giá 2.000,đ. Khi đến thị trấn T, Q, T quay vào nhà Q chơi. Trong lúc Q đang tắm, T lấy ma túy ra, lấy nilon bọc các gói ma túy vào để đỡ bị ẩm, khi đang bọc thì bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt quả tang. Mục đích T mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, không có mục đích gì khác.

Bản cáo trạng số 58/CT-VKSQH ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Ngày 07/8/2024 bị cáo mua ma túy với mục đích để bản thân sử dụng ngoài ra không có mục đích khác. Bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng như kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và trình bày quan điểm về nguyên nhân phạm tội và hướng giải quyết vụ án như sau: Mặc dù nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị xã hội lên án, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ ngày 07/8/2024 của bị cáo Hoàng Văn T còn lại sau khi đã trích mẫu đi giám định, 01 xi lanh, giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của vụ Hoàng Văn T. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bị cáo sử dụng để gói ma túy. Trả cho bị cáo Hoàng Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu HOIVIDA, màu đen, biển kiểm soát 11B1-003.04, số khung 001555, số máy 516555, không có gương chiếu hậu hai bên, xe cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

4

Bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Hoàng Văn T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 07/8/2024 tại nhà ở của Nguyễn Văn Q thuộc Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng, Hoàng Văn T đang tàng trữ 05 (năm) gói heroine có khối lượng 0,404g (không phẩy bốn không bốn gam) với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an huyện Q phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Hoàng Văn T đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà N về ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội để có ma túy sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép 0,404 gam Heroine của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Heroine, C, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c

5

khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, nghiện ma túy. Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 27/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Mặc dù đã từng bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu vụ Hoàng Văn T”, bên trong chứa 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đ, giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của vụ Hoàng Văn T. Do đó, đối với giấy gói và vỏ niêm phong là vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, đối với tờ tiền 2.000đ bị cáo gấp lại để gói ma túy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Số 477/KL-KTHS. H1 vụ Hoàng Văn T” và 01 xi lanh của Hoàng Văn T, bị cáo dùng để sử dụng ma

6

túy. Số vật chứng này là loại nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HOIVIDA, màu đenWAVE, biển kiểm soát 11B1-003.04 là xe của bị cáo nhờ Nguyễn Văn Q mua lại với giá 3.200.000 đồng. Chiếc xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo T do đó Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe cho bị cáo.

[6] Các nhận định khác: Nguồn gốc số ma túy, bị cáo Hoàng Văn T khai mua với một người đàn ông không quen biết tại chợ T3, T, Cao Bằng. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, danh tính của người bán ma tuý cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q không có căn cứ mở rộng vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 02 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 07/8/2024;

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

    • + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của Hoàng Văn T”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
    • + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Xi lanh của Hoàng Văn T”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
    • + 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi “Số 477/KL-KTHS. Hoàn mẫu vụ Hoàng Văn T, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 07/8/2024".

7

  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đ (Chứa trong 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “giấy gói và vỏ niêm phong ban đầu của Hoàng Văn T”)
  • - Trả cho bị cáo Hoàng Văn T 01 (Một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HOIVIDA, màu đenWAVE, biển kiểm soát 11B1-003.04, số khung 001555, số máy 516555, không có gương chiếu hậu hai bên, xe cũ đã qua sử dụng

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Hòa tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/10/2024.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  2. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Hoàng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - Sở tư pháp;
  • - Phòng hồ sơ – CA tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Công an huyện;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THA dân sự huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Án văn, THA hình sự và HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thúy Quỳnh

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/8/2024 Tổ công tác Đội hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện Q chủ trì phối hợp với các cơ quan liên ngành trên địa bàn thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại thị trấn T. Khi đến nhà của Nguyễn Văn Q, sinh năm 1985 thuộc Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng thì phát hiện Hoàng Văn T, sinh năm 1996, có hộ khẩu thường trú tại: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Nông đang ngồi trên nền nhà trong phòng khách có biểu hiện nghi vấn thực hiện hành vi phạm tội về ma túy. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra thì T bỏ chạy, đồng thời ném 05 (năm) gói nhỏ đang cầm trong tay trái, cụ thể: Ném xuống nền nhà 01 (một) gói được gói bằng tờ tiền mệnh giá 2.000đ (Hai nghìn đồng), ném qua lỗ gạch ra sau nhà 03 (ba) gói được gói bằng giấy bạc màu vàng và 01 (một) gói được gói bằng vỏ nilon được hàn nhiệt, mở ra là lớp giấy bạc màu vàng, bên trong tất cả các gói đều chứa chất bột màu trắng. T khai nhận 05 (năm) gói nhỏ chứa chất bột màu trắng là ma túy loại heroine T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành mời người chứng kiến, đại diện chính quyền địa phương và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, khám nghiệm hiện trường, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 (một) xilanh; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HOIVIDA, màu đen, biển kiểm soát 11B1-003.04, số khung 001555, số máy 516555, không có gương chiếu hậu hai bên, xe cũ đã qua sử dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger