| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST
Ngày: 09/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Uyên và ông Đinh Công Danh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Văn Tám – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Châu Văn T, sinh ngày: 20/10/1986, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Châu Ngọc T1, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị T2, sinh năm 1959; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt.
- Cao Văn N, sinh ngày: 20/8/1986, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Trung Đ, sinh năm 1962 và bà Lê Thị B, sinh năm 1961; Có vợ: Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1988 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt.
- Cao Trung Đ, sinh ngày: 02/9/1962, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Ngọc X (chết) và bà Lưu Thị S, sinh năm 1938; Có vợ Lê Thị B, sinh năm 1961 và 05 con: lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Lê Thị Ú, sinh ngày: 01/01/1968, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Quang K (chết) và bà Nguyễn Thị L (chết). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Châu Văn T: Ông Nguyễn N1, luật sư ký hợp đồng của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Ú: Ông Nguyễn Thanh M, luật sư ký hợp đồng của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. Có mặt.
- Bị hại (cũng là bị cáo trong vụ án):
- Châu Văn T, sinh ngày: 20/10/1986; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Cao Văn N, sinh ngày: 20/81986; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Cao Trung Đ, sinh ngày: 02/9/1962; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị B, sinh năm 1961; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Ông Châu Ngọc T1, sinh năm 1959; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Lê Thị Thúy H, sinh năm 1983; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Cao Nguyễn Trà M1, sinh năm 2009; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Châu Thanh B1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/7/2023, tại thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, do nghi ngờ nhà Cao Trung Đ bắt trộm, bỏ thuốc làm chó, gà của nhà mình chết nên Châu Văn T chửi, đe dọa giết nhà Đ; Đ nói với T “mày vào nhà chứ ra đây tao chém chết”; T đi vào nhà lấy dao dài 31cm đi đến đứng trước nhà Đ, Cao Văn N (con ruột Đ) cầm dao tự chế dài 94cm đi đến chém 01 cái trúng tay trái T làm lưỡi dao của N bị gãy; T cầm dao đâm liên tiếp nhiều cái trúng vùng ngực, tay N, Nam la lớn “Ba ơi, chết con ông ba ơi”. Thấy N bị đâm, Cao Trung Đ cầm 01 cây tre dùng móc lồng chim dài 1,59m có gắn lưỡi liềm bằng kim loại dài 12cm từ trong nhà chạy ra xông vào đánh T, T đưa tay trái đỡ, chụp giữ cây tre giằng co với Đ. Lúc này Lê Thị Ú (em vợ Đ) cầm cây mác tự chế dài 1,19 mét (phần cán bằng gỗ dài 82cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 37cm) từ trong nhà chạy ra để hỗ trợ; N lấy cây mác trên tay Ú rồi cùng Đ xông vào đánh T; N bị T dùng dao đâm trúng vào vùng ngực trái; Đ bị T đâm trúng vào cánh tay trái; N cầm cây mác chém từ trên xuống trúng vùng đầu làm T ngã xuống ruộng; T cầm dao đứng dậy bỏ chạy một đoạn thì bị trượt ngã, N tiếp tục cầm mác chém, Đ cầm cây tre đánh nhiều cái vào người T rồi bỏ đi vào nhà. Đông, N, T được người nhà đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 330 ngày 26/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận: tổng tỷ lệ thương tích của Châu Văn T là 37%, vật tác động: vật có cạnh sắc.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 332 ngày 08/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: tổng tỷ lệ thương tích của Cao Văn N là 24%, vật tác động: vật sắc nhọn.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 333 ngày 08/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: tổng tỷ lệ thương tích của Cao Trung Đ là 12%, vật tác động: vật sắc nhọn.
Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 240 ngày 13/12/2023 của Trung tâm P1 kết luận: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi vào ngày 23/7/2023 và hiện tại Châu Văn T hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSPY-P1 ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Châu Văn T về tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 2 Điều 123; điểm đ khoản 2 Điều 134; Các bị cáo Cao Văn N, Cao Trung Đ và Lê Thị Ú về tội “Giết người”, quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Châu Văn T phạm các tội “Giết người” và “Cố ý gây thương tích”; Các bị cáo Cao Văn N, Cao Trung Đ và Lê Thị Ú phạm tội “Giết người”,
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, p, q, s, Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 (cho cả hai tội); Điều 15; khoản 3 Điều 57 (đối với tội “Giết người”); Điều 55 BLHS; Xử phạt:
- Bị cáo Châu Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng về tội “Giết người” và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là từ 05 năm đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/01/2024.
Áp dụng khoản 2 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 15; khoản 3 Điều 57 BLHS đối với các bị cáo N, Đ, Ú; áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS đối với bị cáo Ú; Xử phạt:
- Bị cáo Cao Văn N từ 05 đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/02/2024.
- Bị cáo Cao Trung Đ từ 03 năm đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Bị cáo Lê Thị Ú từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị Ú cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm các khoản thiệt hại khác nên không xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn cây tre dài 1,59 mét; 01 (một) đoạn cây tre dài 1,38 mét; 01 (một) cán dao tự chế bằng kim loại dài 35cm; 01 (một) lưỡi dao tự chế bằng kim loại dài 55cm; 01 (một) cây mác gồm phần cán gỗ dài 82cm và phần lưỡi bằng kim loại dài 37cm; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại đã bị rỉ sét dài 31cm; 01 (một) lưỡi liềm bằng kim loại dài 20cm bên trên gắn 01 vòng kim loại hình tròn.
Người bào chữa cho bị cáo Châu Văn T trình bày: Bị cáo bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại; bị cáo có nhân thân tốt, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị cáo N là người dùng dao tấn công bị cáo T trước nên đề nghị áp dụng thêm điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là quá cao.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Ú trình bày: Về tội danh, khung hình phạt: thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, cần cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và xem xét áp dụng điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Ú để xử phạt bị cáo mức án thấp hơn Kiểm sát viên đề nghị. Bị cáo Ú là người khuyết tật nặng nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên toà, vắng mặt 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và một số người làm chứng. Nhưng xét thấy, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự. Toà án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/7/2023, tại thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; Châu Văn T đã có hành vi dùng dao đâm nhiều cái trúng vào vùng ngực, tay của Cao Văn N; N cầm dao tự chế và cây mác tự chế do Lê Thị Ú đem đến chém trúng tay trái và đầu của T; Cao Trung Đ cầm 01 cây tre có gắn lưỡi liềm cùng N đánh nhiều cái vào người T; Đ bị T dùng dao đâm trúng cánh tay trái gây thương tích tỷ lệ 12%; Truyền, Nam được cấp cứu, điều trị kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng T bị thương tích tỷ lệ 37%, Nam bị thương tích tỷ lệ 24%. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Châu Văn T về các tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 2 Điều 123; điểm đ khoản 2 Điều 134; Các bị cáo: Cao Văn N, Cao Trung Đ và Lê Thị Ú về tội “Giết người”, quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo. Xét tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo, hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Đối với bị cáo Châu Văn T: Bị cáo có hành vi đã dùng dao đâm nhiều cái trúng vào vùng ngực, tay của Cao Văn N, Nam được đưa đi cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng nhưng bị thương tích 24%; ngoài ra bị cáo còn dùng dao đâm trúng cánh tay trái Cao Trung Đ, gây thương tích 12%. Bị cáo cùng một lúc phạm nhiều tội nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt” đối với tội giết người, bị cáo là người khuyết tật nặng, có bệnh hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, đồng thời bị cáo cũng là bị hại trong vụ án; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; đã bồi thường cho các bị hại Nam 3.500.000đ, Đông 1.500.000đ; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, p, q, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng quy định tại Điều 54 BLHS (đối với cả hai tội), xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Đồng thời áp dụng quy định tại Điều 55 BLHS để tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định của pháp luật.
[3.2] Đối với bị cáo Cao Văn N và Cao Trung Đ: Bị cáo N có hành vi dùng dao, mác tự chế, bị cáo Đ dùng 01 đoạn cây tre gắn lưỡi liềm chém nhiều cái trúng vào vùng đầu của Châu Văn T, T được đưa đi cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng nhưng bị thương tích 37% Các bị cáo phạm tội đối với người khuyết tật nặng, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 BLHS nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Xét các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”, cũng là bị hại trong vụ án; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đ có ông nội và bị cáo N có ông cố nội là Liệt sĩ được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, hạng Ba; bị cáo Đ có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, là hội viên Hội cựu chiến binh xã; bị cáo N đã bồi thường cho bị hại 5.000.000đ, bị cáo Đ đã bồi thường cho bị hại 3.000.000₫ và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng Điều 54 BLHS, xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Nam cao hơn bị cáo Đ.
[3.3] Đối với bị cáo Lê Thị Ú: Bị cáo có hành vi cầm cây mác tự chế từ trong nhà chạy ra để hỗ trợ cho bị cáo N, Đ và bị cáo N đã dùng cây mác tự chế này chém trúng vào vùng đầu bị hại T, gây thương tích 37% nên bị cáo Ú đồng phạm với các bị cáo N, Đ. Bị cáo phạm tội đối với người khuyết tật nặng, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 BLHS nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: bị cáo là người khuyết tật nặng; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã nộp khắc phục cho bị hại 2.000.000đ và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu, là người giúp sức có vai trò không đáng kể, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng quy định tại Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định và không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng chính sách pháp luật hình sự quy định tại Điều 65 BLHS cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên hội đồng xét xử không xét giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 (một) đoạn cây tre dài 1,59 mét; 01 (một) đoạn cây tre dài 1,38 mét; 01 (một) cán dao tự chế bằng kim loại dài 35cm; 01 (một) lưỡi dao tự chế bằng kim loại dài 55cm; 01 (một) cây mác gồm phần cán gỗ dài 82cm và phần lưỡi bằng kim loại dài 37cm; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại đã bị rỉ sét dài 31cm; 01 (một) lưỡi liềm bằng kim loại dài 20cm bên trên gắn 01 vòng kim loại hình tròn; không sử dụng được và là vật trực tiếp liên quan đến tội phạm, nên tịch thu tiêu hủy.
(Các vật chứng đều có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).
[6] Về án phí: Các bị cáo Cao Văn N, Cao Trung Đ bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Châu Văn T, Lê Thị Ú vì các bị cáo T, Ú là người bị khuyết tật nặng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Châu Văn T phạm các tội “Giết người” và “Cố ý gây thương tích”; các bị cáo: Cao Văn N, Cao Trung Đ và Lê Thị Ú phạm tội “Giết người”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, p, q, s, Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 (đối với cả hai tội); Điều 15; khoản 3 Điều 57 (đối với tội “Giết người”); Điều 55 BLHS; Xử phạt:
1.1. Bị cáo Châu Văn T – 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người” và 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/01/2024.
Áp dụng khoản 2 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 15; khoản 3 Điều 57 BLHS đối với các bị cáo N, Đ, Ú; áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS đối với bị cáo Ú; Xử phạt:
1.2. Bị cáo Cao Văn N – 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/02/2024.
1.3. Bị cáo Cao Trung Đ – 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
1.4. Bị cáo Lê Thị Ú – 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị Ú cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn cây tre dài 1,59 mét; 01 (một) đoạn cây tre dài 1,38 mét; 01 (một) cán dao tự chế bằng kim loại dài 35cm; 01 (một) lưỡi dao tự chế bằng kim loại dài 55cm; 01 (một) cây mác gồm phần cán gỗ dài 82cm và phần lưỡi bằng kim loại dài 37cm; 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại đã bị rỉ sét dài 31cm; 01 (một) lưỡi liềm bằng kim loại dài 20cm bên trên gắn 01 vòng kim loại hình tròn.
(Các vật chứng đều có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Cao Văn N, Cao Trung Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí cho các bị cáo Châu Văn T và Lê Thị Út
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt tại phiên toà) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
| - Tòa án nhân dân cấp cao (1); | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| - VKSND cấp cao (1); | |
| - VKSND tỉnh (2); | Nguyễn Việt Hùng |
| - PC 01 (1); | |
| - PV 06 (1); | |
| - Sở tư pháp (1); | |
| - Bị cáo; | |
| - Người tham gia tố tụng; |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về giết người; cố ý gây thương tích
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người; Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châu văn T
