|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 58/2024/HS-ST Ngày 17-6-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Mạnh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trương Văn Luân
- Bà Trần Thị Nơi
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Trung Đức là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Hoài Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 17-6-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị K, sinh năm 1987 tại huyện H, tỉnh Thái Bình
Nơi cư trú trú: thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Nguyễn Thị B; chồng: Nguyễn Văn T, bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19-3-2024, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995, (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình
Người làm chứng: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980, (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 15 phút ngày 13-02-2024, bị cáo Nguyễn Thị K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alphal đeo biển kiểm soát (viết tắt BKS) 17B5-056.41 chở con gái là cháu Nguyễn Anh T1, sinh năm 2020 đi xem lễ hội ở Miếu T2, thuộc thôn M, xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình. Khi đến Miếu T2, bị cáo K để xe ở sân trường tiểu học và trung học cơ sở xã B rồi đi vào miếu xem hội. Sau khi xem xong, bị cáo K quay lại sân trường để lấy xe thì nghe thấy tiếng chuông điện thoại, quan sát xung quanh bị cáo thấy bên trong một chiếc túi nilon màu trắng treo ở móc treo đồ ở khung xe mô tô nhãn hiệu SH màu trắng, BKS 29F1-20596 của chị Nguyễn Thị L phát ra tiếng chuông điện thoại, quan sát thấy không có người, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại, bị cáo đi đến cạnh chiếc xe mô tô SH màu trắng, dùng tay lấy từ bên trong túi nilon 01 chiếc điện thoại Iphone 11Promax màu trắng, bị cáo tắt nguồn điện thoại, cất giấu vào cốp xe mô tô của mình rồi mang về nhà cất trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ. Khi bị cơ quan Công an phát hiện, bị cáo đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KLĐG ngày 15-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11Promax màu trắng, mua vào năm 2022, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng); 01 chiếc ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu trắng, mua vào năm 2022 không còn giá trị sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 0 (không) đồng; 01 sim điên thoại Viettel số 0969.168.xxx đã qua sử dụng, tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại có giá trị thành tiền là 8.050.000 đồng (tám triệu không trăm năm mươi nghìn đồng)
Bản cáo trạng số 60/CT-VKSHH ngày 15-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị K ra trước Toà án nhân dân huyện Hưng Hà để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (viết tắt BLHS).
Tại phiên tòa bị cáo K khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 11Promax màu trắng của chị Nguyễn Thị L như nội dung nêu ở trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo K từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
trách nhiệm dân sự không xem xét giải quyết. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị xử lý vật chứng của vụ án và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: lời khai của bị cáo K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: lời khai của bị hại là chị Nguyễn Thị L (bút lục từ 104 đến 107); lời khai của người làm chứng là anh Nguyễn Văn T (bút lục từ 198 đến 112); Biên bản trích xuất camera và bản ảnh kèm theo do Công an xã B, huyện H lập (bút lục từ 35 đến 43); Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 06-3-2024 của Công an xã B (bút lục số 51); Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 10/KLĐG ngày 15-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H (bút lục số 46) và phù hợp với Sơ đồ nơi xảy ra vụ việc mất trộm điện thoại; BL khám nghiệm hiện trường vụ án và bản ảnh kèm theo do Công an xã B, huyện H lập ngày 11-3-2024 tại nơi xảy ra vụ án (bút lục số 27 đến 34).
[3] Như vậy có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 13-02-2024, tại sân trường tiểu học và trung học cơ sở xã B, thuộc thôn M, xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Thị K đã có hành vi trộm cắp của chị Nguyễn Thị L 01 chiếc điện thoại Iphone 11Promax màu trắng, bên trong có 01 sim Viettel số thuê bao 0969.168.xxx, bên ngoài có ốp nhựa màu trắng ánh kim. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 8.050.000 đồng. Hành vi của bị cáo K đã phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 173. Trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
...”
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: hành vi trộm cắp tài sản mà bị cáo K thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi nên vẫn cố ý thực hiện.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện giao nộp tài sản trộm cắp để trả cho bị hại, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị hại là chị Nguyễn Thị L có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo phạm tội có tính chất cơ hội; trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 mũ bảo hiểm màu trắng sữa, trước mũ có kính chắn màu đen (đã cũ); 01 áo khoác liền mũ màu xanh (đã cũ) và 01 quần vải dài màu đen (đã cũ) quản lý của bị cáo K. Tại phiên tòa bị cáo trình bày các tài sản trên không còn giá trị sử dụng,bị cáo không lấy lại, nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Phạt bị cáo Nguyễn Thị K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Thị K cho UBND xã B, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu trắng sữa, trước mũ có kính chắn màu đen (đã cũ); 01 áo khoác liền mũ màu xanh (đã cũ) và 01 quần vải dài màu đen (đã cũ). (Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17-5-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà)
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Nguyễn Thị K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Nguyễn Mạnh Hà |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo K phạm tội "Trộm cắp tài sản"
