|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 58/2024/HSST Ngày: 10/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải
- 2. Bà Dương Thị Thu Hằng
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại nhà Văn hóa xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLST – HS ngày 19 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo: Hoàng Văn V, tên gọi khác:Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 01/11/1989; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Văn P, sinh năm 1958; Con bà: Vương Thị M( đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Con: không có; Gia đình có 4 anh, chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình;
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/9/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
( Có mặt tại phiên tòa)
2. Bị hại: Anh Bế Văn T, sinh năm 1984;
Nơi cư trú: Xóm B, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bế Văn D, sinh năm 1984; Nơi cư trú:Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
4. Người làm chứng: Anh Bế Trung H, sinh năm 2005; Nơi cư trú: Xóm B, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 28/8/2024, Hoàng Văn V một mình đi bộ đến khu vực nhà anh Bế Văn T (sinh năm: 1984), ở xóm B, xã M, huyện Đ, V nhìn thấy trước hiên nhà anh T có để 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu: HONDA, loại xe: Wave, BKS: 20B1 – 616.72, ổ khóa điện của xe vẫn cắm chìa khóa, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài. V theo dõi quan sát nhà anh T, đến khoảng 18 giờ 30 phút, sau khi xác định không có ai ở nhà, V đã đi vào sân nhà anh T lấy trộm chiếc xe môtô trên, V mở cốp xe môtô ra thấy trong cốp có 01 chiếc ví da bên trong có 01 Căn cước công dân của anh Bế Văn T và 01 Đăng ký xe môtô BKS: 20B1 – 616.72, V lấy Đăng ký xe, còn chiếc ví da và căn cước công dân, Vũ vứt lại trước cửa nhà anh T. Sau đó, V điều khiển xe đi đến nhà anh Triệu Văn P1, sinh năm 1982( trú tại xóm L, xã H, huyện Đ) tìm người để bán xe mô tô vừa trộm cắp được nhưng không gặp anh P1 ở nhà. Tại nhà anh P1, V gặp Bế Văn D, sinh năm 1984(trú tại xóm L, xã H, huyện Đ) đang ngồi chơi ở nhà P1, qua trao đổi V đã bán chiếc xe BKS: 20B1 – 616.72 cho D với giá 2.000.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 31/8/2024 anh Bế Văn T đã trình báo sự việc đến Công an xã M, huyện Đ giải quyết.
Ngày 03/9/2024, Bế Văn D giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen bạc, BKS: 20B1 – 616.72; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001951, cấp ngày 05/12/2014
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 32/KL-ĐGTSHS ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên kết luận: Giá trị của xe môtô BKS: 20B1-616.72; nhãn hiệu Honda; số khung: 31216DY463127; số máy: HC12E5463181; xe cũ, đã qua sử dụng; đăng ký năm 2014 thời điểm ngày 28/8/2024 là: 5.000.000đ.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nên trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với đơn trình báo, lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sơ đồ, biên bản hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Về phần dân sự: Bị hại Bế Văn T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bế Văn D không đề nghị bị cáo bồi thường dân sự.
Vật chứng của vụ án:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave; BKS: 20B1-616.72, xe cũ, đã qua sử dụng và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001951 cấp ngày 05/12/2014. Hiện đã trả lại cho anh Bế Văn T chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
- + 01 USB được niêm phong trong bì ký hiệu N, bên trong có 01 Video thời lượng 08 giây được sao lưu từ điện thoại di động của Bế Văn D (Được chuyển theo hồ sơ vụ án).
Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSĐH, ngày 18 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Hoàng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn V khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Đề nghị HĐXX: Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V từ 9 đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;
- Về vật chứng: Ngày 05/11/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã trả lại cho anh Bế Văn T là chủ sở hữu quản lý, sử dụng 01( một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave; xe cũ, đã qua sử dụng, BKS: 20B1 – 616.72; 01(một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001951 Công an tỉnh T cấp ngày 05/12/2014. Anh Bế Văn T không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
- + 01 USB được niêm phong trong bì ký hiệu N, bên trong có 01 Video thời lượng 08 giây được sao lưu từ điện thoại di động của Bế Văn D (Được chuyển theo hồ sơ vụ án).
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của vị đại diện Viện Kiểm sát đề nghị. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo Hoàng Văn V không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử bị cáo Hoàng Văn V không yêu cầu được nhờ người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm, sơ đồ hiện trường và các loại tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 28/8/2024, tại nhà anh Bế Văn T ở xóm B, xã M, huyện Đ, Hoàng Văn V đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave a, BKS: 20B1 – 616.72 của anh Bế Văn T có giá trị 5.000.000₫ (Năm triệu đồng). Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Bản cáo trạng số 57/CT-VKSĐH, ngày 18/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn V, về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về hình phạt, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn V, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong nhân dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo tuy không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, xuất phát từ động cơ tư lợi cá nhân muốn có tiền để tiêu sài nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử với mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave a, BKS: 20B1 – 616.72 bị cáo trộm cắp của anh Bế Văn T được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận có giá trị 5.000.000₫ (Năm triệu đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo làm cho người có tài sản bị mất không có phương tiện đi lại, ảnh hưởng đến hoạt động tăng gia sản xuất phục vụ đời sống sinh hoạt của gia đình người có tài sản.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định bản cáo trạng VKSND huyện Đ truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hai không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại Điểm h. i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo.
[5]Về trách nhiệm dân sự: Ngày 05/11/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã trả lại tài sản cho anh Bế Văn T- chủ sở hữu quản lý, sử dụng gồm: + 01( một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave; xe cũ, đã qua sử dụng, BKS: 20B1 – 616.72; 01(một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001951 Công an tỉnh T cấp ngày 05/12/2014. Anh Bế Văn T không yêu cầu, đề nghị gì thêm.
- Anh Bế Văn D là người mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave; xe cũ, đã qua sử dụng, BKS: 20B1 – 616.72 xe bị cáo trộm cắp của anh T để bán cho anh D với giá 2.000.000 đồng, anh D không biết chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda đã cũ, BKS: 20B1 – 616.72 là xe bị cáo trộm cắp mang đi bán, số tiền 2.000.000 đồng anh D không đề nghị bị cáo bồi thường dân sự nên
HĐXX không xem xét giải quyết. Khoản tiền 2.000.000 đồng( Hai triệu đồng) là tiền bị cáo V bán chiếc xe mô tô Honda đã cũ, BKS: 20B1 – 616.72 cho anh D là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần truy thu 2.000.000 đồng( Hai triệu đồng) của bị cáo để sung vào Ngân sách nhà nước.
[6]Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng Văn V 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
[7]Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã trả lại tài sản cho anh Bế Văn T, chủ sở hữu 01( một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave a, BKS: 20B1 – 616.72; 01(một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 001951 Công an tỉnh T cấp ngày 05/12/2014 để quản lý, sử dụng. Anh Bế Văn T( bị hại) không đề nghị bị cáo bồi thường gì thêm.
- + 01 USB được niêm phong trong bì ký hiệu N, bên trong có 01 Video thời lượng 08 giây được sao lưu từ điện thoại di động của Bế Văn D (Được chuyển theo hồ sơ vụ án).
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về điều luật áp dụng là có căn cứ tuy nhiên mức hình phạt đối với bị cáo còn nhẹ chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 38, 47 Bộ luật hình sự;
- Điều 106, 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn V 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2024.
- Quyết định tạm giam bị cáo Hoàng Văn V 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
-Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Truy thu của bị cáo Hoàng Văn V 2.000.000 đồng( Hai triệu đồng) là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào Ngân sách nhà nước.
4. Án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn V phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú và trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Hồng Thái |
Bản án số 58/2024/HSST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 58/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 28/8/2024, tại nhà anh Bế Văn T ở xóm B, xã M, huyện Đ, Hoàng Văn V đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave a, BKS: 20B1 – 616.72 của anh Bế Văn T có giá trị 5.000.000đ (Năm triệu đồng)
