TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 58/2024/HS-PT Ngày: 20-5-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu
Các Thẩm phán:
Ông Hồ Văn Cường;
Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLPT-HS, ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối bị cáo Lê Bá L; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2024/HS-ST ngày 23-01-2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Bá L (Cu), sinh năm 1962 tại Campuchia; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Bá C (chết) và bà Lương Thị K (chết); Vợ tên Văn Thị T, sinh năm: 1964; Con có 06 người; Con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không có; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 21-10-2023, đến nay có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:
Tháng 6-2023, X Lìn P được người không rõ nhân thân, liên lạc qua mạng xã hội đưa qua Campuchia (viết tắt CPC) bằng đường tiểu ngạch để làm thuê cho Công ty G1, thành phố B, tỉnh Svay Riêng, CPC do người đàn ông Trung Quốc làm chủ; Tiền lương trả 800USD/tháng. Ngày 16-9-2023, P xin phép Công ty về Việt Nam đón bạn gái tên Nình Ngọc A qua CPC làm việc cùng với P; Công ty cho nghỉ 10 ngày phép, hưởng đủ tiền lương và sắp xếp người đưa P đến khu vực biên giới tỉnh Long An để về Việt Nam.
Ngày 19-9-2023, P được người bạn tên T1 làm chung Công ty (tên gọi khác của T1 là G không rõ nhân thân); T1 sử dụng tài khoản Facebook (viết tắt FB) "Trường Giống” gọi cho P qua tài khoản FB tên “Phúc Xìn”; Nhờ P đưa Dương Ngọc Uyên V qua CPC làm việc trong Công ty; P đồng ý. T1 hứa dẫn P đi ăn và trả chi phí đã đưa qua CPC; T1 giới thiệu cho V kết bạn với P và Ngọc A qua FB để liên lạc, thống nhất thời gian, địa điểm đưa qua CPC.
Sáng ngày 26-9-2023, P hướng dẫn cho V đi xe taxi từ tỉnh Lâm Đồng đến nơi ở của P tại ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đông Nai. Tại đây, P thuê xe ô tô 07 chỗ ngồi đưa P, V, Ngọc A từ tỉnh Đồng Nai đến khu vực biên giới huyện C, tỉnh Tây Ninh trả công số tiền 3.000.000 đồng để xuất cảnh trái phép qua CPC. Trên đường đi, P liên lạc qua FB với T1 nhờ tìm người đưa qua biên giới CPC (không rõ tài xế, số biến kiếm soát).
Do đã từng qua các Casino ở CPC đánh bạc, Lê Bá L cho số điện thoại của những người làm thuê tại đây để liên lạc khi qua CPC chơi. Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 26-9-2023, người đàn ông (không rõ nhân thân) sử dụng số điện thoại CPC gọi vào sim số của L (0984844515), thuê L đưa 03 người Việt Nam qua CPC công trả 1.000.000 đồng/người và cho số điện thoại 0355.377.xxx của Xiu L để L hướng dẫn xe đưa đến nhà của L tại ấp T, xã T, huyện C; L sắp xếp đưa qua CPC bằng đường tiểu ngạch.
Khoảng 7 giờ cùng ngày, L đến quán cà phê ông Năm Q tại ấp T, xã T, huyện C thì gặp Lê Văn T2; L đã thuê T2 đưa những người này qua CPC với công trả 500.000 đồng/người và trả trước cho T2 số tiền 1.000.000 đồng.
Khoảng 9 giờ ngày 26-9-2023, Lê Bá L dùng điện thoại (0984.844.xxx) gọi cho P (0355377779) hướng dẫn tài xế chở P và Ngọc A và V đến nhà chờ người đưa đi. Lang gọi cho T2 bằng số điện thoại 0848.373.xxx yêu cầu T2 đến nhà đón người qua CPC.
Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Ware (không biển số kiểm soát) đến nhà L chở Nình Ngọc A và Dương Ngọc U Vy qua CPC; Khi đến khu vực C, bị Đồn biên phòng Cửa khẩu P2 bắt quả tang lúc 14 giờ 00 phút; Đến 19 giờ 15 phút cùng ngày, Xiu Lìn P1 đầu thú; Ngày 13-10-2023, Lê Bá L đầu thú.
Kết luận giám định số 1596/KL-KTHS ngày 18-10-2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T có kết luận: Số tiền 2.000.000 Việt Nam đồng thu giữ gồm 04 tờ tiền Việt Nam đồng (polyme) mệnh giá 500.000 cần giám định là tiền thật.
Kết luận giám định số 1591/KL-KTHS ngày 20-10-2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T có kết luận: Xe thu của bị cáo Lê Văn T2 có số khung, số máy không bị đục xóa.
Kết luận giám định số 1682/KL-KTHS ngày 07-11-2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T có kết luận: Trích xuất phục hồi dữ liệu lưu trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tỉm, số imei: 353751250256675 gồm: Tin nhăn, cuộc gọi Zalo, video, hình ảnh, tập tin âm thanh trong thời gian từ ngày 15-9-2023 đến ngày 26-9-2023. Chỉ tiết lưu trong 01 đĩa DVD kẻm theo.
Kê biên tài sản: Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T kê biên của Lê Bá L: 01 thửa đất diện tích 1195,8 m², thửa số 243, Tờ bản đồ số 25; Tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Các bị cáo Xiu Lìn P1 và Lê Văn T2 không có tài sản, không kê biên.
Người đàn ông tên T1 (G) sử dụng tài khoản FB“Trường Giống” và người đàn ông Trung Quốc quản lý Công ty G1 chưa xác định được nhân thân, Cơ quan An Ninh điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau. Đối với Nình Ngọc A và Dương Ngọc Uyên V có hành vi “Qua lại biên giới Quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định” nên ngày 28-9-2023, Đồn Biên phòng Cửa khẩu P2 có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Nình Ngọc A số tiền 4.000.000 đồng và Dương Ngọc Uyên V số tiền 2.000.000 đồng.
Xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh, không biển số kiểm soát, số máy: VLKZSIP50FMH00048702, số khung: VLKPCH022LK048702 do Lê Văn T2 mua của người tên T3 không rõ nhân thân, số tiền 3.000.000 đồng, không có Giấy chứng nhận đăng ký. Tra cứu của Phòng C3 và dữ liệu quản lý thông tin xe mô tô bị mất trộm. Kết quả không có thông tin về chủ sở hữu xe mô tô trên.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HS-ST, ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Xiu L1 Phúc 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”; Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26-9-2023
Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Bá L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”; Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn T2 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”; Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26-9-2023
Tài sản kê biên: Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số 05/LKB-ANĐT ngày 26/10/2023 của Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh T đối với quyền sử dụng đất có DT 1195,8 m², thửa số 243, TBĐ số 25; Tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh do UBND huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp cho Lê Bá L và bà Văn Thị T để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29-01-2024, bị cáo Lê Bá L có đơn kháng xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi của bị cáo thực hiện:
[1.1] Bị cáo Lê Bá L được bị cáo Xiu L1 P1 thuê đưa bị cáo P1 và Nình Ngọc A và Dương Ngọc Uyên V qua Campuchia; Bị cáo P1 trả công số tiền 1.000.000 đồng/người. Bị cáo Lê Bá L thuê Lê Văn T2 thực hiện, chở Xiu Lìn P1 và Nình Ngọc A và Dương Ngọc Uyên V qua C1 trái phép với số tiền 500.000 đồng/người.
[1.2] Lúc 14 giờ 00 phút, ngày 26-9-2023, Bị cáo T2 dùng xe mô tô chở Nình Ngọc A và Dương Ngọc Uyên V xuất cảnh trái phép qua biên giới Việt Nam – CPC đã bị bắt quả tang tại khu vực cột mốc 149; Thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
[2] Hành vi của bị cáo Lê Bá L đã bị Toà án sơ thẩm xét xử về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”; Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo:
[3.1] Toà án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hổi cải, có mẹ được phong danh hiệu “Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng” tên Lương Thị K (chết); Có 02 anh là Liệt sĩ tên Lê Văn C2 và Lê Bá H đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước; Toà án sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Đã phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù không nặng.
[3.2] Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp kết quả xét nghiệm thể hiện bị cáo đang bị bệnh, không thuộc tình tiết giảm nhẹ mới, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[3.3] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà có cơ sở chấp nhận.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Bá L (Cu);
- Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 11/2024/HS-ST, ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Bá L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”; Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Bá L phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Minh Châu |
Bản án số 58/2024/HS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 58/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Bá Lang
