Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-PT

Ngày 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuý Hoàn và ông Phạm Ngọc Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST- HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HSST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị H, sinh năm 1985, T gọi khác: Không; Nơi sinh, nơi cư trú: Đội 3, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đức T1; Con bà: Tạ Thị H1; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • + Ngày 24/10/2005, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Cơ quan Công an huyện L, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 200.000 đồng, đã thi hành xong;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2006/HS-ST ngày 20/02/2006 của Tòa án nhân dân thành phố thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp chung hình phạt là 12 tháng tù, phải thi hành 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. H đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 12/5/2016; thi hành xong hình phạt tù ngày 12/4/2007;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2006/HSST ngày 29/6/2006 của Tòa án nhân dân thành phố thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; phải thi hành 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 50/2006/HSPT ngày 21/8/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã miễn hình phạt 09 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 141/2006/HSST ngày 29/6/2006 của Tòa án nhân dân thành phố thành phố Việt Trì đối với H.

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2008/HSST ngày 28/02/2008 của Tòa án nhân dân thành phố thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, phải thi hành 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. H đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 11/8/2008; thi hành xong hình phạt tù ngày 19/8/2008;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 201/2010/HSST ngày 25/10/2010 của Tòa án nhân dân thành phố thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, phải thi hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. H đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 02/6/2011; thi hành xong hình phạt tù ngày 05/01/2011;
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 157/2016/HSST ngày 25/7/2016 của Tòa án nhân dân thành phố thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, phải thi hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. H đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 21/9/2016; thi hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2017;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2023 đến ngày 01/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Ông Đỗ Thái H2 - Luật sư thuộc Văn phòng L, Đoàn luật sư thành phố H. (có mặt)

  1. Anh Nguyễn Tam S, sinh năm 1979
  2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955

Đều cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (anh S, bà M có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thị H có quen biết và quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Tam S từ cuối năm 2020, H thường về thăm gia đình anh S. Đến tháng 8/2023, anh S xây nhà nên H về ở cùng với anh S và bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của anh S. Trong khoảng thời gian này, những người thân trong gia đình bà M vay tiền của ngân hàng và hỗ trợ với tổng số tiền là 368.000.000 đồng để cho bà M làm nhà. Anh Nguyễn Tam S là con trai bà M đã thanh toán tiền công thợ và nguyên vật liệu xây nhà hết 150.000.000 đồng, còn 218.000.000 đồng bà M để trong tủ và bị H trộm cắp 197.900.000 đồng; anh S bị H trộm cắp qua tài khoản nhân hàng 40.000.000 đồng, cụ thể 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của H như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 31/10/2023, lợi dụng lúc anh S đang ngủ nên H lấy và mở điện thoại di động Samsung Galasy S20FE đăng nhập vào số tài khoản 174033676 thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1) của anh S, chuyển số tiền 40.000.000 đồng sang số tài khoản 0361000187937 thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần N (V2) của H. Sau khi chuyển tiền xong, H xóa giao dịch nhằm mục đích tránh anh S phát hiện.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 02/11/2023, H thấy bà M để chìa khóa tủ trên mặt bàn và đi tắm nên H đã lấy chìa khóa mở tủ gỗ ra thấy bên trong có một chiếc hòm tôn nhỏ không khóa, bên trong hòm tôn có 148.000.000 đồng, do sợ bị phát hiện nên H không lấy trộm hết số tiền 148.000.000 đồng mà chỉ trộm cắp 100.000.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng). Sau khi trộm cắp số tiền 100.000.000 đồng, H khóa tủ gỗ lại, đặt chìa khóa vào chỗ cũ đồng thời cất số tiền trộm cắp vào ba lô của H.

Lần thứ ba: Khoảng 07 giờ ngày 12/11/2023, do sợ bà M phát hiện H trộm cắp số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 02/11/2023 nên H đã đi ra cửa hàng bán hàng mã của bà Bùi Thị T2, sinh năm 1954, trú tại thôn T, xã Đ huyện Đ mua 5.000 đồng tiền Ngân hàng địa phủ (gồm 95 tờ loại 200.000 đồng địa phủ và 207 tờ loại 500.000 đồng địa phủ) mang về nhà bà M cất vào ba lô của H với mục đích thay thế số tiền đã trộm cắp của bà M để tránh bị bà phát hiện. Lúc này bà M vừa về đến nhà, cầm theo số tiền 70.000.000 đồng vừa vay được trong diện hồ nghèo, bà M nhờ H đếm, sau khi đếm xong, H chuyển trả lại số tiền 70.000.000 đồng cho bà M, bà M cho vào hòm tôn trong tủ gỗ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H thấy bà M để chìa khóa tủ trên mặt bàn và đi tắm nên H đã lấy chìa khóa mở tủ gỗ ra, mở chiếc hòm tôn nhỏ không khóa, trộm cắp 97.900.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng). Sau đó H lấy từ ba lô của H ra 302 tờ giấy ghi dòng chữ tiền Ngân hàng địa phủ (gồm: 95 tờ ghi 200.000 đồng Ngân hàng địa phủ và 207 tờ ghi 500.000 đồng Ngân hàng địa phủ) ra, dùng 20.100.000 đồng tiền thật phủ kẹp hai mặt của 06 xấp Ngân hàng địa phủ rồi bỏ vào trong hòm tôn, khóa tủ gỗ lại và cất chìa khóa vào vị trí cũ.

Đến sáng ngày 23/11/2023, bà M kiểm tra lại tiền thì phát hiện bị mất 197.900.000 đồng nên trình báo và giao nộp số tiền 20.100.000 đồng tiền thật còn lại (19 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 53 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng) và 302 tờ giấy ghi dòng chữ ngân hàng địa phủ (95 tờ ngân hàng địa phủ ghi 200.000 đồng và 207 tờ ngân hàng địa phủ ghi 500.000 đồng) cho Công an xã Đ, đồng thời bà M hỏi anh S và H nhưng không ai thừa nhận đã trộm cắp tiền của bà M. Thấy vậy, anh S đã hỏi H thì H thừa nhận đã trộm cắp 197.900.000 đồng của bà M và H đến Công an xã Đ đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp 197.900.000 đồng của bà M. Đến ngày 26/11/2023, ngân hàng thông báo cho anh S biết anh nợ 40.000.000 đồng thì lúc này anh S mới biết và trình báo Cơ quan Công an, H cũng thừa nhận đã trộm cắp số tiền 40.000.000 đồng của anh S.

Bản án sơ thẩm số 54/2024/HSST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng đã quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng:

  • * Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, tuyên nghĩa vụ về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 09/6/2024 bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên và tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo. Anh Nguyễn Tam S, bà Nguyễn Thị M đều trình bày về việc bị cáo H trộm cắp số tiền 237.900.000 đồng như bản án sơ thẩm xác định là đúng, gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho anh S, bà M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HSST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Người bào chữa cho bị cáo H tranh luận: Sau khi phạm tội bị cáo H đã ra đầu thú; bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo có nhiều thành tích trong phong trào chống C và các hoạt động từ thiện khác. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ bị cáo đã cao tuổi, bị cáo là lao động chính trong nhà nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án 7 năm tù.

Bị hại không có tranh luận gì, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về cùng gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của cáo phù hợp với lời khai của bị cáo cũng như lời khai của bị hại trong quá trình điều tra, truy tố và các tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 31/10/2023 đến ngày 12/11/2023, tại chỗ ở của bà Nguyễn Thị M thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Bị cáo Nguyễn Thị H, đã lợi dụng sự tin tưởng và sơ hở của bị hại anh Nguyễn Tam S và bà Nguyễn Thị M đã 03 lần lén lút chiếm đoạt tổng số 237.900.000 đồng của anh Nguyễn Tam S và bà Nguyễn Thị M. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự như quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân không tốt 01 lần bị xử phạt hành chính do trộm cắp tài sản, nhiều lần bị xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ, bị cáo sau khi phạm tội ra đầu thú; tác động đến gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, người bào chữa của bị cáo H cung cấp thêm tài liệu chứng minh bản thân bị cáo H có nhiều thành tích trong phong trào chống C và các hoạt động từ thiện khác; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ bị cáo đã cao tuổi, bị cáo là lao động chính trong nhà, bố mẹ bị cáo đã cao tuổi đang thờ cúng anh trai là liệt sĩ, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đã được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội, bị cáo có 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, do đó bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo H 08 năm tù là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị cáo cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm như quan điểm của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HSST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo, cụ thể như sau:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng:
    • * Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 09/8/2024.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Điều tra, Cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát, Tòa án huyện Đông Hưng, Thái Bình
  • - Bị cáo kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa.

Vũ Duy Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 58/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger