Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 58/2024/HS-PT

Ngày 09 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vũ
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương
Ông Nguyễn Hà Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 do có kháng cáo của Bị hại, Người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sơ thẩm số 39/2024/HSST ngày 22/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số đối với:

1.Bị cáo:Trần Quang T; Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 18/11/1987 tại C, Phú Thọ.

Nơi cư trú: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.

Bố đẻ: Trần Văn T1, sinh năm 1960; Mẹ đẻ: Lê Thị T2, sinh năm 1963.

Hiện đều làm ruộng tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Vợ: Trần Thị Thanh H, sinh năm 1991 (đã ly hôn)

Con: Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. (Có mặt).

2. Bị hại:

2.1. Anh Phùng Văn V, sinh năm 1980. Địa chỉ: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ (Đã chết);

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Văn V: Chị Hà Thị H1, sinh năm 1985. Địa chỉ: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Hà Thị H1: Bà Nguyễn Thị S - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T12, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

2.2. Cháu Ngô Anh N, sinh năm 2015. Địa chỉ: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Ngô Anh N1: Anh Ngô Xuân M, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1958 là bà nội của cháu N1.Địa chỉ: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

2.3. Anh Ngô Duy H2, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu N, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ(vắng mặt).

2.4. Chị Hồ Thị N2, sinh năm 1987. Địa chỉ: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ(vắng mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Công ty TNHH X. Địa chỉ: khu H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T4 – chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH X; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thiện T5 – Chức vụ: Phó giám đốc Công ty TNHH X (có mặt).

3.2. Công ty Cổ phần K1. Địa chỉ: P, tầng M, tòa nhà N, số B N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Anh T6 – Chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Vũ Tuấn K – Chức vụ: Chuyên viên cao cấp (vắng mặt).

3.3. Đại diện theo pháp luật của V1 do ông Nguyễn Quốc P đại diện theo ủy quyền (có mặt).

Địa chỉ: Số A, Đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

3.4. Công ty cổ phần T13 do ông Lê Xuân Q đại diện theo ủy quyền (có mặt).

Địa chỉ: Số B, đường P, phường X, quận B, thành phố Hà Nội.

3.5. Bà Nguyễn Thị H3, sinh 1957 và ông Phùng Văn H4, sinh năm 1955 Thông qua địa chỉ của chị Hà Thị H1, sinh năm 1985. Địa chỉ: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

4. Người kháng cáo:

Người đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Văn V: Chị Hà Thị H1;

Người đại diện hợp pháp của bị hại Ngô Anh N1: Anh Ngô Xuân M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng17 giờ 45 phút ngày 08/7/2023, Trần Quang T, sinh năm 1987 ở khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại GRAND I10, biển kiểm soát 19A-361.68 chở theo 04 (bốn) người, gồm: chị Hồ Thị N2, sinh năm 1987 và cháu Ngô Anh N, sinh năm 2015 cùng ở khu G, xã T, huyện C; anh Ngô Duy H2, sinh năm 1990 ở khu N, xã T, huyện C và anh Phùng Văn V, sinh năm 1980 ở khu Đ, xã V, huyện C. Đi từ khu Đ, xã V, huyện C theo hướng đi xã S trên đường T. Khi đi đến đoạn đường trước Cửa hàng xăng dầu xã V, T điều khiển xe ô tô đi vào công trường đang xây dựng công trình “Đường giao thông liên vùng kết nối đường H với Quốc lộ G, Quốc lộ C tỉnh Phú Thọ đi tỉnh Yên Bái” do Công ty TNHH X đang thi công. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn đường K+320 thuộc khu T, xã C, huyện C, do đi với tốc độ cao, không chú ý quan sát nên khi phát hiện đoạn đường phía trước trải đá “base”, chưa được trải nhựa bằng phẳng. T đã phanh gấp làm xe ô tô bị trượt, đâm vào đống đất bên lề đường phải theo chiều đi, xe ô tô do T điều khiển bị rơi xuống rãnh thoát nước đang thi công bên phải đường và lật nhiều vòng. Sau đó dừng lại tại lối vào đường bê tông của khu T, xã C, huyện C. Hậu quả: anh Phùng Văn V tử vong tại chỗ; cháu Ngô Anh N1 bị thương phải cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện C, sau đó chuyển tuyến điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P, Bệnh viện Sản nhi tỉnh P, Bệnh viện N4, Bệnh viện Y và phục hồi chức năng; anh Ngô Duy H2, chị Hồ Thị N2 và bản thân T bị xây xát nhẹ; chiếc xe ô tô bị hư hỏng.

Cùng ngày, tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Trần Quang T. Kết quả: Trong hơi thở của Trần Quang T có cồn, nồng độ cồn trong hơi thở là 0,791mg/l.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường vụ việc ngày 08/7/2023 thể hiện:

Hiện trường nơi xảy ra vụ việc là đoạn đường đang thi công đường liên vùng đoạn qua khu T, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ do Công ty TNHH X thi công. Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường đang thi công, đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, đường dốc, đầu dốc hướng về xã V, chân dốc hướng về xã S (độ dốc dưới 10%), mặt đường được trả đá xanh, nham nhở, không bằng phẳng, mặt được rộng 8,05m, tiếp giáp với hai mép đường phải và trái là rãnh thoát nước được xây dựng bằng bê tông xi măng không có nắp đậy, cao 50cm, miệng rãnh thoát nước rộng 1,2m; hai bên đường có nhiều đống đất và tấm bê tông để ngổn ngang.

Lấy chiều từ xã V, huyện C đi xã S, huyện C làm chiều khám nghiệm. Lấy mép trong của rãnh thoát nước phía bên trái theo chiều khám nghiệm làm mép đường chuẩn. Lấy chân của cột điện ở lề đường trái của lối mở đi khu Đ, xã C (lối mở ở bên phải đường theo chiều khám nghiệm) làm điểm mốc cố định.

  • Vị trí số (1): Vết trượt nằm trên mặt đường đang thi công, có chiều cùng chiều khám nghiệm, hướng từ trái sang phải, có kích thước 12,5m x 15cm. Tâm đầu vị trí số (1) cách mép đường chuẩn 5m và cách điểm mốc cố địch 49,55m. T7 cuối vị trí số (1) cách mép đường chuẩn là 6,9m.
  • Vị trí số (2): Vết trượt nằm trên mặt đường đang thi công, có chiều cùng chiều khám nghiệm, hướng từ trái sang phải, có kích thước 10,65m x 15cm. T7 đầu vị trí số (2) cách mép đường chuẩn 4,4m và cách tâm đầu vị trí số (1) là 1,4m. T7 cuối vị trí số (2) cách mép đường chuẩn 5,75m.
  • Vị trí số (3): Vết trượt nằm trên mặt đường đang thi công, có chiều cùng chiều khám nghiệm, hướng từ trái sang phải, có kích thước 14,2m x 15cm. T7 đầu vị trí số (3) cách mép đường chuẩn 3,7m và cách tâm đầu vị trí số (2) là 0,7m. T7 cuối vị trí số (3) cách mép đường chuẩn 6,5m.
  • Vị trí số (4): Vết trượt nằm trên mặt đường đang thi công, có chiều cùng chiều khám nghiệm, hướng từ trái sang phải. T7 đầu vị trí số (4) cách mép đường chuẩn 3,1m và cách tâm đầu vị trí số (3) là 1,25m. T7 cuối vị trí số (4) cách mép đường chuẩn 6,15m.
  • Vị trí số (5): Đống đất được đổ trên mặt đường đang thi công và rãnh thoát nước ở phía bên phải, có kích thước 6m x 2,3m, cao 50cm. Trên đống đất có 01 (một) vết cày có chiều cùng chiều khám nghiệm, kích thước 1,6m x 1,1m, sâu 12cm. T7 vết cày cách mép đường chuẩn 7,7m và cách tâm cuối vị trí số (3) là 1,8m.
  • Vị trí số (6): Bãi mảnh nhựa vỡ nằm trên rãnh thoát nước phía bên phải, có kích thước 1,8m x 76cm. T7 vị trí số (6) cách mép đường chuẩn 9m và cách tâm cuối vị trí số (4) là 3m.
  • Vị trí số (7): Bãi mảnh nhựa vỡ nằm trên bãi đất tiếp giáp cuối mép ngoài của rãnh thoát nước phía bên phải và cỏ cây bị dập đổ ở bên ngoài của rãnh thoát nước phía bên phải có chiều cùng chiều khám nghiệm, kích thước 3,2m x 2,5m. T7 vị trí số (7) cách mép đường chuẩn 11,35m và cách tâm vị trí số (6) là 9,5m.
  • Vị trí số (8): Bãi mảnh nhựa vỡ và vỡ bê tông nằm trên mép trên phía ngoài của rãnh thoát nước bên phải và trên bãi đất giáp cống thoát nước bên phải, có kích thước 1,2m x 80cm. T7 vị trí số (8) cách mép đường chuẩn 10,3m và cách tâm vị trí số (7) là 4,8m.
  • Vị trí số (9): Bãi mảnh nhựa vỡ và cành cây gẫy nằm trên rãnh thoát nước và mép rãnh thoát nước bên phải, có kích thước 3,4m x 1,1m. T7 vị trí số (9) cách mép đường chuẩn 9,75m và cách tâm vị trí số (8) là 2,4m.
  • Vị trí số (10): Vết cày đứt đoạn nằm trên lối mở đường đi khu Đ, xã C, có chiều cùng chiều khám nghiệm, hướng từ trái sang phải, có kích thước 1,55m x 3cm, sâu 0,4cm. Điểm đầu vị trí số (10) cách mép đường chuẩn 8,95m và cách tâm vị trí số (9) là 7,1m. Điểm cuối vị trí số (10) cách mép đường chuẩn 9,88m.
  • Vị trí số (11): Vết trượt màu đen nằm trên mặt đường bê tông lối mở đi khu Đ, xã C, có chiều cùng chiều khám nghiệm, kích thước 50cm x 8cm. Tâm đầu vị trí số (11) cách mép đường chuẩn 10,35m và cách điểm cuối vị trí số (10) là 0,8m. Điểm cuối vị trí số (11) cách mép đường chuẩn 10,9m.
  • Vị trí số (12): Vết trà sát màu đen nằm trên mặt đường bê tông lối mở đi khu Đ, xã C, có chiều cùng chiều khám nghiệm, kích thước 40cm x 30cm. Điểm đầu xa nhất của vị trí số (12) cách mép đường chuẩn 11,1m và cách điểm đầu vị trí số (11) là 1,35m. Điểm đầu gần nhất vị trí số (12) cách mép đường chuẩn 10,95m.
  • Vị trí số (13): Xe ô tô BKS: 19A-361.68 đang đỗ trên mặt đường bê tông lối mở đi khu Đ, xã C, đầu xe hướng về xã V, đuôi xe hướng về xã S. Hình chiều đứng của trục trước bên phải xe ô tô cách mép đường chuẩn 9,3m và cách điểm cuối vị trí số (11) là 1,1m. Hình chiều đứng đầu trụ sau bên phải xe ô tô cách mép đường chuẩn 8,55m.
  • Vị trí số (14): Vết trà sát nằm trên mặt đường bê tông lối mở đi khu Đ, xã C, có chiều cùng chiều khám nghiệm, kích thước 65cm x 7cm. Điểm đầu vị trí số (14) cách mép đường chuẩn 9,05m và cách hình chiếu đứng đầu trục trước bên phải xe ô tô BKS 19A-361.68 là 60cm. Điểm cuối vị trí số (14) cách mép đường chuẩn 8,8m.
  • Vị trí số (15): Bãi dịch màu nâu nằm phía bên trái trên mặt đường đang thi công, có kích thước 85cm x 30cm. T7 bãi dịch cách mép đường chuẩn 1,95m và cách điểm đầu vị trí số (14) là 7,6m.
  • Vị trí số (16): Các tâm bê tông (nắp cống thoát nước) được để ngổn ngang ở phía bên trái mặt đường đang thi công, có kích thước 4,9m x 2,5m, cao 50cm. T7 vị trí số (16) cách mép đường chuẩn 1,25m và cách tâm vị trí số (15) về hướng xã V là 7,1m.

Tiếp tục mở rộng hiện trường về hướng xã V, tại vị trí đường cách tâm đầu vị trí số (1) là 44,4m là đoạn đường liên vùng đã được trải áp-phan tương đối bằng phẳng, mặt đường cao hơn mặt đường đang thi công được trải đá xanh là 10cm.

Ngày 08/07/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số 155 trưng cầu Phòng K2 - Công an tỉnh P giám định nguyên nhân chết của anh Phùng Văn V. Tại Kết luận giám định tử thi số 999/KLGĐTT-PC09 ngày 31/7/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh P kết luận:

Các kết quả chính: Khám nghiệm tử thi:

  • Trên cơ thể anh Phùng Văn V có các tổn thương sây sát da, tụ máu.
  • Chấn thương cột sống – tủy sống: Tụ máu dưới da vùng cổ sau. Gãy, vỡ phức tạp đốt sống cổ C3, C4, C5 thành nhiều mảnh rời, đứt đoạn tủy sống, hình ảnh váng mỡ. Sờ nắn cột sống thắt lưng thấy mất liên tục.
  • Chấn thương ngực kín: Khoang ngực bên phải có nhiều máu không đông.
  • Gia đình kiên quyết từ chối giải phẫu thêm các bộ phận khác.

Kết luận: Nguyên nhân chết của anh Phùng Văn V là do đa chấn thương (chấn thương cột sống – tủy sống, chấn thương ngực kín).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số 156, trưng cầu Phòng K2 - Công an tỉnh P giám định: Trong máu của anh Phùng Văn V có cồn không? Nồng độ cồn là bao nhiêu? Tại Kết luận giám định số 970/KL-KTHS ngày 22/7/2023, Phòng K2 - Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Phùng Văn V không có cồn (ethanol).

Ngày 05/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định số 220, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe của cháu Ngô Anh N1? Cơ chế hình thành vết thương?

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 199/KLTTCT/TTPY ngày 31/10/2023, Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận:

Các kết quả chính:

  • Vết sẹo số một vùng đầu: 01%
  • Vết sẹo số hai vùng đầu (sẹo phẫu thuật): 01%
  • Vết sẹo số ba vùng đầu (sẹo phẫu thuật): 01%
  • Vết sẹo số bốn vùng đầu (sẹo phẫu thuật): 02%
  • Vết sẹo số một vùng mặt bên phải: 03%
  • Vết sẹo số hai vùng mặt bên phải: 03%
  • Vết sẹo số ba vùng mặt bên phải: 03%
  • Vết sẹo phía dưới cổ bên phải: 02%
  • Vết sẹo sau vai bên phải: 01%
  • Khuyết xương sọ thái dương đỉnh phải đường kính 7,4cm đáy trắc: 26%
  • Vỡ xương trần ổ mắt phải không ảnh hưởng thị lực: 05%
  • Tụ máu ngoài màng cứng thùy thái dương đỉnh phải nay chỉ định chụp CT sọ nào không còn hình ảnh tổn thương trên phim chụp: 05%
  • Ô tổn thương não đường kính 5,15cm, liệt ½ người bên trái mức độ vừa: 61%

Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư: 78,06%. Làm tròn: 78%.

Kết luận tại thời điểm giám định:

  • Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Ngô A Nhật là 78% (bảy mươi tám phần trăm).
  • Cơ chế hình thành vết thương:
    • + Vết sẹo số một vùng đầu, 03 vết sẹo vùng mặt, vết sẹo cổ, vết sẹo vai bên phải, tụ máu ngoài màng cứng, ổ tổn thương nhu não: Do tác động bởi vật cứng gây nên.
    • + Vết sẹo số hai, số ba, số bốn vùng đầu, khuyết xương sọ thái dương đỉnh bên phải: Bác sỹ làm phẫu thuật để điều trị.

Chị Hồ Thị N2 và anh Ngô Duy H2 bị xây xát nhẹ nên từ chối giám định thương tích, không có yêu cầu, đề nghị gì đối với Trần Quang T.

Ngày 10/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác định giá trị phần hư hỏng của chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại GRAND I10, biển kiểm soát 19A-361.68.

Tại Kết luận định giá tài sản số 33 ngày 17/8/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị phần hư hỏng của chiếc xe ô tô trên là 73.050.000 đồng (bảy mươi ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Quá trình xác minh còn làm rõ: xe ô tô biển kiểm soát 19A-361.68 là xe của Trần Quang T do T đăng ký và sử dụng. Hiện tại xe ô tô biển kiểm soát 19A-361.68 hết hạn kiểm định từ ngày 22/3/2023.

Bản án hình sơ thẩm số 39/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Về trách nhiệm hình sự:Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điều 38, Điều 55 BLHS. Xử phạt: Trần Quang T8 (Mười tám) tháng tù về tội “Vô ý làm chết người”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 138; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điều 38, Điều 55 BLHS. Xử phạt: Trần Quang T 06 (sáu) tháng tù về tội “Vô ý gây thương tích”.

Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 589, 590, 591 Bộ luật dân sự.

Xác nhận Công ty TNHH X đã hỗ trợ gia đình anh Phùng Văn V số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và hỗ trợ cháu Ngô A Nhật số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).

Xác nhận bị cáo Trần Quang T đã bồi thường tiền mai táng phí đối với anh Phùng Văn V cho gia đình chị Hà Thị H1 số tiền40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Chị H1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì thêm.

Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Trần Quang T và chị Hà Thị H1, anh Ngô Xuân M về phần bồi thường dân sự theo Biên bản thỏa thuận về bồi thường dân sự ngày 24/4/2024 cụ thể như sau:

  • + Bị cáo Trần Quang T9 dưỡng tiền nuôi con cho hai con của anh V và chịHoa là cháu Phùng Thị Hà P1 và cháu Phùng Hà N3 số tiền là 100.000.000 đồng/1 cháu x 2 cháu là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng). Ngoài ra chị H1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường bất kỳ khoản tiền gì khác.
  • + Bị cáo Trần Quang T10 thường tiền hồi phục sức khỏe và tiền điều trị bệnh của cháu N1 (do anh Ngô Xuân M làm đại diện hợp pháp cho cháu N1) tổng số tiền là: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Bị cáo T đã bồi thường cho cháu N1 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Nay bị cáo T bồi thường tiền hồi phục sức khỏe và tiền điều trị bệnh của cháu N1 số tiền 470.000.000₫ (Bốn trăm bảy mươi triệu đồng). Ngoài ra anh M không yêu cầu bị cáo T bồi thường bất kỳ khoản tiền gì khác.

Ngày 15/7/2024 bị cáo Trần Quang T phải thanh toán số tiền trên cho chị Hà Thị H1 và anh Ngô Xuân M.

Ngoài ra bản án còn tuyên các vấn đề khác cần giải quyết của vụ án.

Kháng cáo: Ngày 4 tháng 6 năm 2024 và ngày 09 tháng 7 năm 2024, Người đại diện hợp pháp của bị hại Ngô Anh N1 là anh Ngô Xuân M kháng cáo bản án, nội dung kháng cáo như sau:

  • Không đồng ý với tội danh và mức án đã tuyên,cần tăng hình phạt.
  • Bị cáo không thực hiện bồi thường và xem xét lại mức bồi thường.

Ngày 4 tháng 6 năm 2024 và ngày 09 tháng 7 năm 2024, Người đại diện hợp pháp của bị hại Phùng Văn V là chị Hà Thị H1 kháng cáo bản án, nội dung kháng cáo như sau:

  • Yêu cầu xét xử lại toàn bộ vụ án về phần hình phạt và bồi thường. Về hình phạt phải xử nghiêm minh hơn.
  • Yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần và cấp dưỡng con của bị hại đến khi thành niên và cha mẹ của bị hại đã gần tuổi chưa được xem xét lại mức bồi thường.

Tại phiên tòa người kháng cáo giữa nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị giải quyết việc bồi thường theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị H3 và ông Phùng Văn H4 không thể hiện được quan điểm bồi thường.

Đại diện Công ty TNHH X cho rằng công ty đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo đảm an toàn tại khu vực công trường thi công, tai nạn là do lỗi lái xe cố tình đi vào khu vực công trường, nhưng cũng thể hiện quan điểm lời khai của những người làm chứng là những người thực hiện việc thi công, bảo đảm an toàn khu vực công trường đã khai tại cơ quan điều tra là đúng.

Đại diện của V1 và đại diện Công ty cổ phần T13 nêu quan điểm về trách nhiệm của đơn vị giám sát là bảo đảm chất lượng công trình theo thiết kế, đơn vị thi công có trách nhiệm bảo đảm an toàn tại khu vực thi công.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Hà Thị H1 đề nghị phải xem xét lại trách nhiệm dân sự của Công ty TNHH X để bảo đảm quyền lợi cho các bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về phần hình phạt. Giữnguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ về tội danh và hình phạt.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Hủy phần dân sự của Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của đại diện hợp pháp cho các bị hại làm trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung cần giải quyết của vụ án:

[2.1] Về chứng cứ buộc tội, gỡ tội: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 18 giờ ngày 08/7/2023, tại đoạn đường K+320 thuộc công trường đang xây dựng công trình “Đường giao thông liên vùng kết nối đường H với Quốc lộ G, Quốc lộ C tỉnh Phú Thọ đi tỉnh Yên Bái" thuộc khu T, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ, Trần Quang T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại GRAND I10, biển kiểm soát 19A-361.68 đã đi vào khu vực công trường đang thi công. Do không chú ý quan sát, phanh gấp dẫn đến xe ô tô do T điều khiển đâm vào bãi đất trên lề đường, rơi xuống cống thoát nước và lật nhiều vòng. Gây ra hậu quả cho những người ngồi trên xe ô tô do T điều khiển, bao gồm: anh Phùng Văn V tử vong tại chỗ, cháu Ngô Anh N1 bị tổn thương cơ thể 78% (bảy mươi tám phần trăm), anh Ngô Duy H2, chị Hồ Thị N2 và bản thân T bị xây xát nhẹ;

Hành vi nêu trên của Trần Quang T đã làm chết một người và người khác bị thương tích trên 31% sức khỏe đã xâm phạm hai khách thể riêng biệt là tính mạng và sức khỏe của người khác.

Cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật và xử phạt: Trần Quang T 18 tháng tù về tội “Vô ý làm chết người”; 06 (sáu) tháng tù về tội “Vô ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 24 tháng tù là đã xem xét toàn diện tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo. Nên kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

[2.2]Về trách nhiệm dân sự:

Anh Phùng Văn V bị chết do lỗi vô ý của bị cáo do vậy bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho đại diện gia đình bị hại theo quy định của pháp luật (trừ khi có thỏa thuận khác). Chị Hà Thị H1 là vợ của bị hại thỏa thuận về bồi thường dân sự nhưng không có văn bản ủy quyền của bố mẹ anh V, thỏa thuận không xác định nghĩa vụ bồi thường đối với bố mẹ anh V đồng thời cấp sơ thẩm cũng không đưa bố mẹ anh V tham gia tố tụng là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và nghĩa vụ của bố mẹ anh V theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Công ty TNHH X không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo đảm an toàn tại khu vực công trường thi công (thể hiện tại các BL 333, 383, 387, 388, 392...), cụ thể: Không có biển báo cấm, biển báo tốc độ, băng phản quang cảnh báo... đường đi vào khu vực thi công là có một phần lỗi để tai nạn xảy ra. Việc không thực thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo đảm an toàn là trái với quy định tại giấy phép thi công số 72/SGTVT-QLGT ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Sở giao thông vận tải tỉnh P (BL 156) và Hợp đồng thi công số 94/2021/HĐXD ngày 05/11/2021 được ký kết giữa Ban Q1...và Liên danh Công tyTNHH xây dựng T14 ...(BL 182). Do vậy, Công ty TNHH X là đơn vị có quyền và nghĩa vụ liên quan, cụ thể là trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại. Cấp sơ thẩm xác định Công ty TNHH X hỗ trợ gia đình anh Phùng Văn V số tiền 10.000.000đ và hỗ trợ cháu Ngô Anh N1 số tiền 70.000.000₫ là không đúng trách nhiệm theo quy định tại Điều 587 Bộ luật Dân sự

Cấp phúc thẩm không thể quyết định trách nhiệm dân sự của các (pháp nhân) Công ty có quyền và nghĩa vụ liên quan hoặc quyền lợi của bố mẹ anh V do pháp luật quy định về chế độ xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm theo khoản 6 Điều 103 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Do vậy cần phải hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm để tiến hành điều tra, xét xử lại phần dân sự vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị hại:

Kháng cáo của đại điện hợp pháp cho bị hại làm trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về hình sự như nhận định tại mục [2.1] không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo.

Về phần dân sự như nhận định tại mục [2.2] tuyên hủy phần dân sự của bản án, nên quyền và lợi hợp pháp của bị hại, đại điện hợp pháp cho bị hại được xem xét khi vụ án được điều tra và xét xử lại phần dân sự vụ án.

Quan điểm bảo vệ quyền lợi cho bị hại của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Hà Thị H1: Đề nghị phải xem xét lại trách nhiệm dân sự của Công ty TNHH X để bảo đảm quyền lợi cho các bị hại là đúng.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Đại điện hợp pháp cho bị hại, bị cáo đềukhông phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại về phần hình phạt. Giữnguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ về tội danh và hình phạt.

Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt: Trần Quang T8 (Mười tám) tháng tù về tội “Vô ý làm chết người”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 138; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt: Trần Quang T 06 (sáu) tháng tù về tội “Vô ý gây thương tích”.

Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc Trần Quang T11 hành hình phạt chung là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Hủy phần dân sự của Bản án hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

[3] Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ để điều tra lại phần dân sự theo thủ tục chung.

[4] Bị cáo và đại điện hợp pháp cho bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND huyện Cẩm Khê;
  • - VKSND huyện Cẩm Khê;
  • - Công an huyện Cẩm Khê;
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Khê;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu HS; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 58/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang Tuyến - Vô ý làm chết người, Vô ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger