TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-ST
Ngày: 30/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ -TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Kim Hồng và ông Bùi Bá Sơn.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Dung - Thư ký TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Quý, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Khả P; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/6/1999, tại xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Quốc K (Đã chết) và bà Hoàng Thị D - Sinh năm 1969; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2024 đến nay (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000; Nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt).
- - Bà Hoàng Thị D; Sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt).
* Người làm chứng:
- 1. Anh Lê Quốc Q1; Sinh ngày: 27/7/2007 (Có mặt); Đại diện theo pháp luật là bà Hoàng Thị D (Mẹ đẻ); Sinh năm 1969; Cùng nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt);
- 2. Anh Nguyễn Công P1; Sinh năm 2000; Nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, (Có mặt);
- 3. Anh Nguyễn Văn Đ; Sinh năm 2002; Nơi cư trú: thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên vào tối ngày 17/4/2024, Lê Khả P sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số IMEI 352978092933978, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0344334138 gọi đến số 0898333226 gặp người phụ nữ (P không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể của người này) tại thành phố H để hỏi mua một viên ma túy dạng kẹo và một gói ma túy dạng Ketamine để về sử dụng thì người này đồng ý bán với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Người phụ nữ này yêu cầu Lê Khả P đến đầu ngõ I, đường P, thành phố H để tiền tại đó rồi đi chỗ khác, khoảng 20 phút sau quay lại lấy ma túy. Theo yêu cầu của người phụ nữ, Lê Khả P đi đến vị trí trên và để 1.000.000 đồng dưới chân cột biển đầu ngõ. Khoảng 20 phút sau, Lê Khả P quay lại vị trí trên thì thấy một túi ni lông chứa một viên ma túy dạng kẹo, màu xám và một gói ni lông chứa Ketamine. Lê Khả P cất dấu tất cả số ma túy vừa mua được vào trong người rồi đi taxi về nhà mình ở thôn N, xã N, huyện T. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 18/4/2024, Lê Khả P đi về đến nhà và vào phòng để ngủ. Lúc này có Lê Quốc Q1, sinh năm 2007, trú tại thôn N, xã N, huyện T (là em trai P) đang nằm ngủ trong phòng. Lê Khả P cất số ma túy mới mua được vào túi da màu đen của P treo ở móc quần áo trên tường rồi nằm ngủ. Sáng sớm ngày 18/4/2024, Lê Khả P sử dụng ứng dụng Messenger của Facebook tên “Phiêu Thạch Đl” nhắn tin và gọi rủ Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000, trú tại thôn N, xã N, huyện T đến nhà P để sử dụng ma túy thì Q đồng ý. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi Lê Khả P ngủ dậy thì có Nguyễn Công P1, sinh năm 2000, trú tại thôn N, xã N, huyện T đến nhà chơi (Pháp và P là bạn chơi thân, nhà ở gần nhau). Đến khoảng 10 giờ ngày 18/4/2024, Nguyễn Văn Q cùng với Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2002, trú tại thôn Y, xã T, huyện T đến và đi vào trong phòng ngủ của Lê Khả P. Khi vào phòng ngủ, Nguyễn Văn Q nằm chơi điện thoại cạnh Lê Khả P khoảng 10 phút thì P rủ Q sử dụng ma túy, Q đồng ý. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, Lê Khả P đi xuống bếp ăn và lấy một đĩa sứ màu trắng, đưa vào phòng ngủ để “xào” (làm nhuyễn) Ketamine. Khi cầm đĩa sứ vào phòng ngủ, Lê Khả P lấy từ trong túi da màu đen ra một bao ni lông có chứa một viên ma túy dạng kẹo, màu xám và một gói ma túy dạng Ketamine, rồi trực tiếp đưa cho Nguyễn Văn Q một bao ni lông có chứa một viên ma túy dạng kẹo, màu xám để Q sử dụng trước. Nguyễn Văn Q bẻ đôi viên ma túy nói trên và sử dụng một phần bằng cách hòa vào lon nước ngọt Cocacola uống trực tiếp; phần còn lại Q đưa cho P sử dụng nhưng do tại thời điểm đó P đang bận “xào” Ketamine (đổ ma túy Ketamine ra đĩa rồi dùng thẻ nhựa miết nhuyễn) nên P bảo Quốc bỏ nửa viên còn lại vào túi da, màu đen treo trên tường để lát nữa P sử dụng. Đến 10 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, khi Lê Khả P đang cầm đĩa có chứa ma túy Ketamine và chưa kịp sử dụng ma túy dạng kẹo thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã N phát hiện, bắt quả tang. Do hoảng sợ, Lê Khả P đã làm nghiêng đĩa sứ khiến ma túy Ketamine đổ ra nền nhà phần lớn, chỉ còn lại một ít bám dính trên đĩa. Quá trình bắt quả tang, lực lượng Công an đã thu giữ một phần viên nén màu xám; một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số IMEI 352978092933978, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0344334138; một đĩa sứ màu trắng có bám dính chất bột màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa màu đen có bám dính chất bột màu trắng; 01 (một) túi da màu đen; một đèn chiếu ánh sáng nhiều màu sắc; một loa màu đen có chữ CROWN. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Khả P.
Ngày 19/4/2024, CQCSĐT Công an huyện T ra Quyết định Trưng cầu giám định số 444/QĐ-ĐKTMT gửi phòng K1 Công an tỉnh H để giám định một phần viên nén màu xám thu giữ được của Lê Khả P. Ngày 23/4/2024, phòng K1 Công an tỉnh H có bản Kết luận giám định số 607/KL-KTHS, kết luận:
- - Một phần viên nén màu xám được bỏ vào trong phong bì thư dán kín mép, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của đối tượng cùng thành phần tham gia và đóng dấu tròn đỏ của Công an xã N gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 0,2557 gam.
- - Mẫu chất bột màu trắng bám dính dạng vết trên bề mặt chiếc đĩa sứ màu trắng và 01 (một) thẻ VISA nhựa màu đen, không đủ lượng để thu, do đó không lấy được mẫu để cân khối lượng và xác định loại chất.
MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục I.B, STT 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Kết quả xét nghiệm ma túy tại khoa xét nghiệm, Trung tâm y tế huyện T ngày 18/4/2024, xác định:
- - Lê Khả P dương tính với ma túy MDMA và Methamphetamine.
- - Nguyễn Văn Q dương tính với ma túy MDMA và Methamphetamine.
- - Lê Quốc Q1; Nguyễn Công P1 và Nguyễn Văn Đ âm tính với các loại ma túy.
* Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra, CQCSĐT Công an huyện T đã thu giữ các vật chứng gồm: 01 (một) phần viên nén màu xám (đã lấy mẫu giám định hết); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số IMEI 352978092933978, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0344334138, đã qua sử dụng; 01 (một) đĩa sứ màu trắng có bám dính chất bột màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhựa màu đen có bám dính chất bột màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) túi da màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn chiếu ánh sáng nhiều màu sắc, đã qua sử dụng; 01 (một) loa màu đen có chữ CROWN, đã qua sử dụng. Ngoài một phần viên nén màu xám đã lấy mẫu giám định hết, các vật chứng này hiện đã được CQCSĐT Công an huyện T chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự quản lý theo quy định.
Tại cáo trạng số 59/CT-VKS-TH, ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố bị cáo Lê Khả P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Khả P từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 18/4/2024); Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đĩa sứ màu trắng có bám dính chất bột màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhựa màu đen có bám dính chất bột màu trắng; 01 (một) túi da màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn chiếu ánh sáng nhiều màu sắc, đã qua sử dụng; 01 (một) loa màu đen có chữ CROWN, đã qua sử dụng; Tịch thu xử lý nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số IMEI 352978092933978, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0344334138, đã qua sử dụng, thu của Lê Khả P.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Khả P khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian tạm giam, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo lần đầu phạm tội mong HĐXX xem xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo được sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về Hành vi, quyết định của Cơ quan và những người tiến hành tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, tại nhà bà Hoàng Thị D, sinh năm 1969, trú tại thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, trong khi Lê Khả P đang tổ chức cho Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000, trú tại thôn N, xã N, huyện T sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã N phát hiện, bắt quả tang. Xét thấy Lê Khả P có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Khả P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS là có căn cứ, đúng người đúng tội, không oan sai.
[3]. Về các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại điều 52 BLHS.
[3.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội và căn cứ quyết định hình phạt: Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như đã nêu trên, HĐXX xét thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Do đó phải xử phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện tránh xa với tệ nạn ma túy, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét thái độ thành khẩn khai báo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểma, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đĩa sứ màu trắng có bám dính chất bột màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhựa màu đen có bám dính chất bột màu trắng; 01 (một) túi da màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn chiếu ánh sáng nhiều màu sắc, đã qua sử dụng; 01 (một) loa màu đen có chữ CROWN, đã qua sử dụng;
- + Tịch thu xử lý nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số IMEI 352978092933978, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0344334138, đã qua sử dụng, thu của Lê Khả P.
[7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
[9]. Các vấn đề khác: - Đối với Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000, trú tại thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh là đối tượng tham gia sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 49/QĐ-XPHC ngày 06/9/2024, phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Nguyễn Văn Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cùng ngày Nguyễn Văn Q đã nộp đủ tiền phạt.
- - Quá trình phát hiện bắt quả tang hành vi của Lê Khả P tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan điều tra đã thu giữ một phần viên nén màu xám, kết quả giám định cho thấy là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 0,2557 gam. Tuy nhiên, kết quả điều tra chứng minh được đây là một phần ma túy Phiêu mua về để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang nên ngoài tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” không xử lý P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ.
- - Quá trình điều tra bị cáo Lê Khả P đã khai liên lạc qua số điện thoại 0898.333.xxx để mua Ma túy từ người phụ nữ không biết rõ lý lịch và địa chỉ. Cơ quan CSĐT công an huyện T đã xác minh thông tin chủ sở hữu thuê bao tại Công ty cổ phần V. Ngày 09/7/2024, Công ty cổ phần V có văn bản trả lời với nội dung: Thông tin chủ thuê bao: Họ và tên LÊ DUY H; Sinh ngày 20/02/1983; trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD [...], cấp ngày 12/10/2022 tại Cục C về TTXH - Bộ C1. Loại thuê bao: Trả trước; Thời gian đăng ký dịch vụ: 14/06/2023. Tiến hành làm việc với anh Lê Duy H, anh H khẳng định từ trước đến nay không đăng ký cũng như sử dụng số điện thoại 0898.333.xxx, do đó không có căn cứ xác định anh Lê Duy H liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Lê Khả P.
- - Đối với bà Hoàng Thị D; Sinh năm 1969, trú tại thôn N, xã N, huyện T (là mẹ đẻ của bị cáo Lê Khả P). Kết quả điều tra xác định tại thời điểm lực lượng Công an bắt quả tang Lê Khả P, bà Hoàng Thị D không có mặt tại nhà và không biết việc con trai mình tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do đó không có căn cứ xác định bà Hoàng Thị D liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Lê Khả P.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Khả P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Khả P 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 18/4/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đĩa sứ màu trắng có bám dính chất bột màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) thẻ nhựa màu đen có bám dính chất bột màu trắng; 01 (một) túi da màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn chiếu ánh sáng nhiều màu sắc, đã qua sử dụng; 01 (một) loa màu đen có chữ CROWN, đã qua sử dụng;
- + Tịch thu xử lý nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, số IMEI 352978092933978, bên trong gắn thẻ Sim có số thuê bao 0344334138, đã qua sử dụng, thu của Lê Khả P.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/9/2024 (BL 210) giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Lê Khả P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS, Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Lâm |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo P tổ chức cho người khác sử dụng chất Ma túy trái phép
