Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

—————————

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Kim Duyên

- Bà Nguyễn Thị Nghị

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Đầu Xuân Hưng, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N, sinh ngày 02/7/1965, tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi thường trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim Đ (đã chết) và bà Bùi Thị P, sinh năm 1936; chồng là Kim Văn H, sinh năm 1962 (đã chết) và 02 con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 18/6/2012, bị Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51/QĐ-XPHC, mức phạt 2.000.000đồng về hành vi đánh bạc (bán số lô, số đề), đã nộp phạt xong ngày 18/6/2012, đã được xóa tiền sự.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Kim Văn A, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Người chứng kiến: Ông Kim Văn Đ1, sinh năm 1976.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N làm công việc bán hàng tạp hóa tại nhà. Do muốn kiếm thêm thu nhập không bằng con đường hợp pháp nên N đã nảy sinh ý định đánh bạc ăn tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho khách.

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 09/5/2024, N đang ở nhà thì có anh Kim Văn A và 01 nam thanh niên tự khai tên là Kim Văn T, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đến mua hàng tạp hóa. Khi đang mua hàng, anh A và nam thanh niên tự khai tên là Kim Văn T cùng hỏi mua số lô, số đề của N. N đồng ý bán và thỏa thuận giá 01 điểm lô là 22.000đồng. Sau đó, nam thanh niên tự khai tên là T đưa cho N 01 mảnh giấy trắng ghi sẵn các số lô 88, 87, 89, mỗi số 50 điểm (tổng là 150 điểm); số đề 90, 88, 78, mỗi số mua 100.000đồng, tương ứng số tiền 3.600.000đồng. Sau khi nam thanh niên tự khai tên là T thanh toán đủ tiền cho N thì anh A đi đến và thỏa thuận với N mua các số lô 02, 20, 24, 42, 36, mỗi số 20 điểm (tổng là 100 điểm); số đề 03, 30, mỗi số 50.000đồng, tương ứng số tiền 2.300.000đồng. Anh A đưa cho N 01 mảnh giấy có ghi sẵn các số lô, số đề như trên đồng thời thanh toán tiền cho N. Khi N vừa cầm tiền của anh A đưa thì Công an thị trấn Hợp Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang các đối tượng đang có hành vi đánh bạc trái phép. Vật chứng thu giữ gồm: Thu trên tay của N 02 mảnh giấy ghi các số và chữ (N khai là giấy ghi chép các số lô, số đề mà anh A và nam thanh niên tự khai tên là T mua cược của N); số tiền 5.900.000đồng (N khai là tiền bán các số lô, số đề cho anh A và nam thanh niên tự khai tên là T mà có). Như vậy, trong ngày 09/5/2024, tổng số tiền N đánh bạc với anh Kim Văn A và nam thanh niên tự khai tên là Kim Văn T dưới hình thức bán số lô, số đề là 5.900.000đồng.

Quá trình điều tra, N, anh A và nam thanh niên tự khai tên là T khai nhận về cách thức đánh bạc và tỷ lệ sát phạt như sau: Người bán số lô, số đề đánh bạc với người mua số lô, số đề, thỏa thuận giá mua số lô tính theo đơn vị điểm (01 điểm lô giá 22.000đồng); giá mua số đề tùy theo số tiền thỏa thuận. Người đánh bạc dùng kết quả của Xổ số kiến thiết Miền Bắc diễn ra sau 18 giờ 00 phút cùng ngày để so sánh, đối chiếu thắng, thua với nhau theo cách thức: Số lô được đối chiếu với tất cả các giải thưởng (từ giải Bảy đến giải Đặc biệt), còn số đề chỉ đối chiếu với giải Đặc biệt. Nếu các số lô của người mua trùng với 02 số cuối cùng của các giải thưởng thì người mua thắng; nếu số đề của người mua trùng với 02 số cuối cùng của giải Đặc biệt thì người mua thắng, người bán phải trả cho người mua theo tỷ lệ 01 điểm lô trả 80.000đồng, số đề trả gấp 70 lần số tiền đã mua. Nếu các số lô của người mua không trùng với 02 số cuối cùng của các giải thưởng và số đề của người mua không trùng với 02 số cuối cùng của giải Đặc biệt thì người mua thua, phải chịu mất số tiền đã mua cho người bán.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Kim Văn A và người chứng kiến ông Kim Văn Đ1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 58/CT-VKSTD ngày 28/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, phạt bổ sung đối với bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng; về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.900.000đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N; lưu hồ sơ vụ án 02 mảnh giấy ghi các số lô, số đề (cáp lô, đề).

Bị cáo Nguyễn Thị N không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị N tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ chứng cứ khách quan để kết luận: Nguyễn Thị N làm công việc bán hàng tạp hóa tại nhà ở tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do muốn kiếm thêm thu nhập không bằng con đường hợp pháp nên N đã nảy sinh ý định đánh bạc ăn tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho khách. Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 09/5/2024, Nguyễn Thị N đang ở nhà thì anh Kim Văn A và nam thanh niên tự khai tên là Kim Văn T đến mua hàng tạp hóa. Sau đó, 02 người này hỏi mua số lô, số đề của N với tổng số tiền cược là 5.900.000đồng. Cụ thể, nam thanh niên tự khai tên là T mua cược số lô 88, 87, 89, mỗi số 50 điểm (tổng là 150 điểm); số đề 90, 88, 78, mỗi số 100.000đồng, tương ứng số tiền 3.600.000đồng. Anh A mua cược số lô 02, 20, 24, 42, 36, mỗi số 20 điểm (tổng là 100 điểm); số đề 03, 30, mỗi số 50.000đồng, tương ứng số tiền 2.300.000đồng. Khi N vừa thanh toán

tiền xong với anh A và nam thanh niên tự khai tên là T thì bị Công an thị trấn Hợp Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang về hành vi đánh bạc trái phép, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền ... trị giá từ 5.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng ..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Nguyễn Thị N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Kim Đ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba do đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, do đã có thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nên N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thị N là người không có tiền án, tiền sự. Năm 2012, N đã từng bị Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. N đã chấp hành việc nộp phạt và đã được xóa tiền sự.

Do đó, chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Thị N cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa tội phạm.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để phạt bị cáo Nguyễn Thị N 10.000.000đồng sung vào ngân sách nhà nước.

[5]. Đối với anh Kim Văn A, quá trình điều tra xác định anh A không có tiền án, tiền sự về các hành vi liên quan đến việc đánh bạc, tổ chức đánh bạc

hoặc gá bạc. Hành vi đánh bạc của anh A với Nguyễn Thị N dưới 5.000.000đồng nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã đề nghị trưởng Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[6]. Đối với nam thanh niên tự khai tên là Kim Văn T, quá trình điều tra người này khai sinh năm 1991, ở thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch của người này nhưng kết quả xác minh không có người nào có tên, địa chỉ như vậy, do đó chưa triệu tập được người này để xử lý theo quy định. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 5.900.000đồng thu giữ của Nguyễn Thị N khi bắt quả tang, quá trình điều tra xác định là tiền N nhận được từ anh Kim Văn A và nam thanh niên tự khai tên là Kim Văn T khi mua bán số lô, số đề nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 02 mảnh giấy ghi các số lô, đề (cáp lô, đề) thu giữ của anh Kim Văn A và nam thanh niên tự khai tên là Kim Văn T là chứng cứ cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[8]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt Nguyễn Thị N 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

  3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Phạt Nguyễn Thị N 10.000.000đồng (mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.900.000đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N.

    Lưu hồ sơ vụ án 02 mảnh giấy ghi các số lô, đề (cáp lô, đề).

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Công an huyện Tam Dương;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Dương;
  • - UBND thị trấn H;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS,văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger