|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 58/2024/HS-ST. Ngày: 27 - 9 - 2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quý Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Thành.
2. Ông Hoàng Quốc Toản.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Thị Minh L, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1981 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi ĐKNKTT: Tổ E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi ở hiện tại: Tổ H, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: Buôn bán; số căn cước công dân: [...], ngày cấp: ngày 01 tháng 12 năm 2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC và TTXH; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Minh Đ và con bà Lê Thị Á (chết); chồng: Lê Bá D (Đã ly hôn), con: Có 01 người con; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam trong 01 vụ án khác. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Chị Hoàng Thị Mai L1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số A D, Tổ H, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Đào Bảo T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản Cáo trạng số: 51/CT-VKS-Hth, ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Ngô Thị Minh L về hành vi phạm tội:
Vào khoảng 20 giờ ngày 20/11/2023, Ngô Thị Minh L sang phòng trọ của chị Hoàng Thị Mai L1, ở tại A D, Tổ H, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, để ngồi chơi (L ở cạnh phòng chị L1); sau đó thì có anh Đào Bảo T, cũng đến phòng trọ chị L1 chơi. Tại phòng trọ của chị L1, L và anh T1 ngồi nói chuyện, còn chị L1 nằm ngủ trên giường. Lúc này, L nhìn thấy trên người chị L1 có đeo 01 sợi dây chuyền màu vàng, có mặt tượng hình tròn đính đá màu trắng (chị L1 khai sợi dây chuyền này là vàng tây, khối lượng 2,7 chỉ, hàm lượng 61%, hiệu TKJ, mua vào khoảng tháng 3/2022, giá 7.100.000 đồng, tại tiệm V, chợ P, phường P, thị xã H), nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lỳ đến chỗ chị L1 nằm ngủ dùng tay mở lấy sợi dây chuyền rồi bỏ vào túi áo khoác; trong lúc L lấy sợi dây chuyền của chị L1 thì anh T có nhìn thấy thì L nói với anh T là lấy cất đi cho nó, anh T nghĩ L và L1 là bạn bè nên không nói gì.
Sau đó, L đưa sợi dây chuyền đến cửa hàng vàng “D", đường B, thành phố H, bán với số tiền 5.880.000 đồng, rồi trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Thị Minh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nói trên.
Vật chứng:, Cơ quan điều tra không thu giữ được sợi dây chuyền vàng mà L đã chiếm đoạt của chị L1.
Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, có cơ sở xác định: 01 sợi dây chuyền vàng cùng mặt tượng mà L chiếm đoạt của chị L1 là vàng tây (vàng công ty, vàng nữ trang), ký hiệu TKJ 610, trọng lượng khoảng 2,7 chỉ, hàm lượng vàng đo quảng phổ là là 61%. Sợi dây chuyền này chị L1 đặt mua vào khoảng tháng 3/2022, giá 7.100.000 đồng, tại tiệm V1, chợ P, phường P, thị xã H; sau đó tiệm V1 đặt hàng cho Công ty TNHH V2, địa chỉ tại 8, T, phường G, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh, gia công.
Ngày 15/5/2024, Cơ quan điều tra cung cấp hồ sơ, tài liệu và yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H, tiến hành định giá (yêu cầu số: 781/YC-ĐTTH). Cùng ngày Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H, có văn bản số: 03/HĐĐG, trả lời: “từ chối thực hiện do không đủ tài liệu, hồ sơ, liên quan đến tài sản để tiến hành định giá”.
Ngày 27/5/2024, Cơ quan điều tra cung cấp hồ sơ, tài liệu và yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh T, tiến hành định giá (yêu cầu số: 813/YC-ĐTTH). Ngày 29/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh T, có văn bản số: 1753/HĐĐGTS, trả lời: “ .... nội dung yêu cầu định giá của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, liên quan đến thẩm quyền của Hội đồng định giá cấp huyện”.
Ngày 05/6/2024, Cơ quan điều tra có văn bản số: 435/CV-ĐTTH, trao đổi và đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh T, nghiên cứu và thực hiện việc định giá dựa trên các thông tin, tài liệu mà Cơ quan điều tra đã cung cấp để định giá. Ngày 07/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh T, có văn bản số: 1890/HĐ ĐGTS trả lời: “ nội dung yêu cầu định giá của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, liên quan đến thẩm quyền của Hội đồng định giá cấp huyện thực hiện ..”.
Do vật chứng (là sợi dây chuyền vàng tây) không thu giữ được nên không tiến hành giám định và định giá được tài sản. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 20/11/2023, Ngô Thị Minh L đã trộm cắp tài sản của chị Hoàng Thị Mai L1, 01 sợi dây chuyền vàng tây trị giá là: 5.880.000 đồng (theo giá bán tại thời điểm phạm tội).
Về trách nhiệm dân sự: Chị Hoàng Thị Mai L1 yêu cầu bị cáo Ngô Thị Minh L, phải bồi thường tổng số tiền là 7.100.000 đồng. Hiện bị cáo chưa bồi thường số tiền trên cho chị L1.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản Cáo trạng đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Thị Minh L từ 07 (Bảy) tháng đến 10 (Mười) tháng tù; xử lý về trách nhiệm dân sự, án phí theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo thì có đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền tiêu xài vào khoảng 20 giờ ngày 20/11/2023, tại Tổ H, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngô Thị Minh L là bạn của chị L1 biết rõ chị L1 có đeo 01 sợi dây chuyền làm bằng vàng có giá trị, Trong lúc đang chơi tại phòng chị L1, bị cáo đã lợi dụng chị L1 đang ngủ say nên đã có hành vi lén lút dùng tay mở sợi dây chuyền của chị L1 đang đeo ở cổ rồi bỏ vào túi áo khoác, sau đó đã bán tại cửa hàng V3, được số tiền 5.880.000 đồng, bị cáo tiêu xài hết. Hành vi của bị cáo Ngô Thị Minh L, đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn trên là chính xác, đúng quy định pháp luật.
- Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hiện tại bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác. Hành vi của bị cáo trong vụ án này đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh trong xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên phải chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra. Do đó, xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, xét cho bị cáo là thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: Chị Hoàng Thị Mai L1 yêu cầu bị cáo Ngô Thị Minh L, phải bồi thường tổng số tiền là 7.100.000 đồng, hiện bị cáo chưa bồi thường. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và chị L1 đã thỏa thuận là bị cáo Ngô Thị Minh L có nghĩa vụ bồi thường cho chị L1 số tiền 7.100.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy sự thỏa thuận trên là tự nguyện, hợp lý, đúng quy định pháp luật, nên chấp nhận. Buộc bị cáo Ngô Thị Minh L phải bồi thường cho chị L1 số tiền 7.100.000 đồng.
- Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Thị Minh L phải chịu án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Ngô Thị Minh L 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành bản án này.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 588 ; Điều 589 Bộ luật dân sự; Tuyên xử: Buộc bị cáo Ngô Thị Minh L có nghĩa vụ bồi thường cho chị Hoàng Thị Mai L1 số tiền 7.100.000 đồng (Bảy triệu một trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Ngô Thị Minh L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 355.000 đồng (Ba trăm năm mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Quý Vân |
Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 58/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Ngô Thị Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
