|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ-TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 58/2024/HS- ST Ngày: 08-05-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng
Ông Trần Minh Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi- Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Ngô Mạnh Lân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST- HS ngày 09 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 04 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quang Đ (tên gọi khác: Đ1) - sinh ngày 08 tháng 03 năm 1995 tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang S (c) và bà Nguyễn Thị P (s); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/06/2023 đến ngày 08/08/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.
Bị cáo hiện tại ngoại. (có mặt)
2. Nguyễn Lê Quang V (tên gọi khác: không) - sinh ngày 26 tháng 03 năm 1996 tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: khu phố F, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang L (s) và bà Lê Thị G (s); tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/06/2023 đến ngày 08/08/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.
Bị cáo hiện tại ngoại. (có mặt)
3. Nguyễn Xuân D (tên gọi khác: không) - sinh ngày 10 tháng 11 năm 1990 tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: khu phố A, phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân L1 (s) và bà Hồ Thị R (s); có vợ là Nguyễn Thị Phương T và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/06/2023 đến ngày 28/08/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.
Bị cáo hiện tại ngoại. (có mặt)
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Túy H - sinh năm: 1972; địa chỉ: K T, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị T1 - sinh năm: 1974; địa chỉ: K Cách mạng tháng H, phường A, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để tiêu xài cá nhân và chơi game. Nguyễn Quang Đ và Nguyễn Lê Quang V nảy sinh ý định chiếm đoạt quyền sử dụng tài khoản facebook để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Đ, V bàn bạc với nhau mua tài khoản ngân hàng trên mạng để sử dụng vào việc chiếm đoạt và đến ở cùng với Nguyễn Xuân D tại K N, phường A, Thị xã Q, tỉnh Quảng Trị để D lo cho việc ăn uống hàng ngày và nhờ D đi rút tiền đem về cho Đ, V; D biết rõ, Đ, V thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng do được Đ, V trả công 100.000 đồng/ ngày và 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng cho mỗi lần đến các cây ATM rút tiền nên D đồng ý cho Đ, V ở cùng, giúp mua đồ ăn và rút tiền theo yêu cầu của Đ, V.
Để thực hiện hành vi phạm tội, Đ, V đã sử dụng điện thoại di động lên mạng lập nick facebook ảo vào trang cộng đồng người Việt tại Mỹ kết bạn với tất cả những người trong trang, gửi tin nhắn xin số điện thoại của những người trong nhóm, rồi dùng số điện thoại này đăng nhập Facebook, vào chức năng “Quên mật khẩu" để Facebook gửi mã code (mã OTP) về số điện thoại nêu trên. Sau đó, Đ, V nhắn tin cho chủ số điện thoại có Facebook nói dối là để thêm vào bạn bè tin cậy trên facebook và yêu cầu chủ số điện thoại chụp ảnh tin nhắn mã code gửi cho Đ và V. Sau khi có mã code thì Đ và V thay đổi mật mã và đăng nhập tài khoản Facebook của những người này, rà soát danh sách tin nhắn bạn bè trong tài khoản nếu thấy người nào thân thiết thì giả mạo chủ tài khoản nhắn tin mượn tiền và nhờ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng theo yêu cầu của Đ và V nhằm chiếm đoạt, tiêu xài cá nhân.
Với phương thức thủ đoạn như nêu trên, Đ đã chiếm quyền sử dụng tài khoản Facebook: "Dan M" (hiện đang sinh sống tại Mỹ). Đ xem phần tin nhắn của tài khoản “Dan My" và biết được bà Nguyễn Thị Túy H là bạn thân của tài khoản “Dan My". Đ xem tin nhắn giữa “Dan My" với em gái là bà Trương Thị T1 biết được số tài khoản của bà T1 là 31010000640724 của Ngân hàng TMCP Đ2 (B). Sau đó, Đ mạo danh “Dan My” nhắn tin cho bà H hỏi thăm sức khỏe và mượn tiền. Bà H tin tưởng là bạn thân thật nên đồng ý cho mượn tiền. Để bà H tin tưởng, Đ yêu cầu bà H chuyển tiền vào tài khoản của bà Trương Thị T1, đồng thời yêu cầu bà T1 khi nhận được tiền từ bà H thì chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng TMCP Q (V1) số tài khoản 252803538 mang tên Trần Huệ H1 để chiếm đoạt tiền. Trong ngày 03/05/2023, Đ đã lừa đảo bà H chuyển tiền 05 lần vào tài khoản bà T1 và từ bà T1 chuyển tiền vào tài khoản Trần Huệ H2 do Đ quản lý sử dụng, cụ thể:
- Chuyển 9.800.000₫ (Chín triệu tám trăm ngàn đồng).
- Chuyển 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
- Chuyển 4.672.000đ (Bốn triệu sáu trăm bảy mươi hai ngàn đồng).
- Chuyển 11.680.000đ (Mười một triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng).
- Chuyển 45,500.000đ (Bốn mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng).
Tổng cộng: 91.652.000đ (Chín mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi hai ngàn đồng).
Sau khi tiền vào tài khoản, Đ dùng một phần để nạp tiền vào tài khoản chơi game của Đ và V. Còn lại Đ chuyển tiếp vào tài khoản Ngân hàng TMCP Q (V1) số tài khoản 012340321 mang tên Nguyễn Thị Ngọc D1, tài khoản này do Đ mua nhưng Đ và V cùng quản lý, sử dụng chung. Tiếp đó V sử dụng tài khoản T2 (tên “T3", số điện thoại đăng ký 0374.721.xxx) để liên hệ mua USDT (tiền ảo) với tài khoản Telegram có tên "KL" (Username: @LK80812), qua tài khoản Trần Thị Thùy L2 số tài khoản 5885588888 của Ngân hàng T6. Vũ tạo 01 (một) tài khoản ví Coinomi Wallet để nhận tiền USDT. Khi mua được, Vũ chuyển số tiền USDT này cho tài khoản V đã đăng ký trên trang mạng Remitano. Khi chuyển xong thì Vũ đổi số tiền USDT này trên trang Remitano thành tiền Việt Nam rồi chuyển tiếp sang tài khoản Ngân hàng TMCP Q1 (MB) số tài khoản: 0971456090 mang tên Nguyễn Xuân D để D rút tiền mặt tại các cây ATM giao lại cho Đ và V.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Lê Quang V, Nguyễn Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Ngoài việc chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Thị Túy H, Đ và V khai nhận còn chiếm đoạt tiền của nhiều bị hại khác nhưng không rõ lai lịch và số tiền cụ thể đã chiếm đoạt.
Bên cạnh các tài khoản Ngân hàng TMCP Q (V1) số tải khoản 252803538 mang tên Trần Huệ H2, tài khoản Ngân hàng TMCP Q (V1) số tài khoản 012340321 mang tên Nguyễn Thị Ngọc D1, V còn sử dụng tài khoản Ngân hàng TMCP N (V2) số tài khoản: 9394308663 mang tên Nguyễn Thị T4 và mua trên mạng tài khoản Ngân hàng TMCP Á (A) số tải khoản 34144317 mang tên Hồ Thị Mỹ D2 để sử dụng vào việc nhận tiền, che giấu nguồn gốc tiền lừa đảo.
Vật chứng và xử lý vật chứng:
+ 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 14 promax màu tím, Số IMEI: 359761975290945; 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 13 promax màu xanh, Số IMEI: 351786563360774; 01 (Một) điện thoại đi động Iphone XS max màu vàng, số IMEI: 353107101952345; 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 7 màu đen, số IMEI: 355330081347819; 01 (Một) điện thoại đi động Nokia màu xanh, Số IMEI: 357705107261276 tạm giữ của Nguyễn Quang Đ.
+ 01 (Một) điện thoại di động Iphone 14 promax màu tím số IMEI: 356266762596978, kèm theo sim mang số thuê bao 0375267310; 01 điện thoại đi động Iphone 13 màu xanh, số IMEI: 356122172113088; 01 điện thoại đi động Iphone 12 promax màu xanh, số IMEI: 356714110030885, kèm theo sim mang số thuê bao 0389151371 tạm giữ của Nguyễn Lê Quang V.
+ 01 (Một) điện thoại đi động Nokia 210 màu đen số seri: 357744107443741 kèm theo sim mang số thuê bao 0828.064.789; 01 (Một) điện thoại di động Iphone 6s màu hồng, Số IMEI: 35862707142001; 01 (Một) máy tính bảng Ipad Air 2 màu vàng, số IMEI: 356970063252179; 01 (Một) Router Wifi màu trắng của nhà mạng V3, Mode ZXHNF 616 tạm giữ của Nguyễn Xuân D.
Toàn bộ các vật chứng nêu trên chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê bảo quản chở xử lý trong giai đoạn xét xử
- Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Lê Quang V đã bồi thường cho người bị hại Nguyễn Thị Túy H số tiền 91.652.000 đồng, H không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho Đ và V.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 29 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Lê Quang V và Nguyễn Xuân D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Lê Quang V và Nguyễn Xuân D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ từ 15 tháng đến 21 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/06/2023 đến ngày 08/08/2023.
- Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Quang V từ 12 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.
- Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Quang V từ 09 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 30 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường số tiền 91.652.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 14 promax màu tím, Số IMEI: 359761975290945;
+ 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 13 promax màu xanh, Số IMEI: 351786563360774;
+ 01 (Một) điện thoại đi động Iphone XS max màu vàng, số IMEI: 353107101952345;
+ 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 7 màu đen, số IMEI: 355330081347819;
+ 01 (Một) điện thoại đi động Nokia màu xanh, Số IMEI: 357705107261276;
+ 01 (Một) điện thoại di động Iphone 14 promax màu tím số IMEI: 356266762596978, kèm theo sim mang số thuê bao 0375.267310;
+ 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 13 màu xanh, số IMEI: 356122172113088;
+ 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 12 promax màu xanh, số IMEI: 356714110030885, kèm theo sim mang số thuê bao 0389.151371 (bị vỡ mặt sau điện thoại).
+ 01 (Một) điện thoại di động Iphone 6s màu hồng, Số IMEI: 35862707142001;
- Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Xuân D:
+ 01 (Một) điện thoại đi động Nokia 210 màu đen số seri: 357744107443741 kèm theo sim mang số thuê bao 0828.064789;
+ 01 (Một) máy tính bảng Ipad Air 2 màu vàng, số IMEI: 356970063252179;
+ 01 (Một) Router Wifi màu trắng của nhà mạng Viettel, Mode ZXHNF 616.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cở sở kết luận:
Bằng thủ đoạn gian dối, Nguyễn Quang Đ đã chiếm quyền sử dụng tài khoản Facebook: "Dan M" và giả danh chủ tài khoản facebook "Dan My" liên hệ với bà Nguyễn Thị Túy H là bạn thân của tài khoản “Dan My" mượn tiền và yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản của bà Trương Thị T1 - em gái tài khoản “Dan My" có số 31010000640724 của Ngân hàng TMCP Đ2 (B), đồng thời yêu cầu bà T1 khi nhận được tiền từ bà H thì chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng TMCP Q (V1) số tài khoản 252803538 mang tên Trần Huệ H2 do Đ mua trước đó và trực tiếp quản lý, sử dụng. Do nhầm tưởng người nhắn tin cho mình là chủ tài khoản “Dan My" và không đủ tiền chuyển một lần nên trong ngày 03/05/2023 bà H đã 05 lần chuyển tiền vào tài khoản bà T1 và bà T1 tiếp tục chuyển tiền vào tài khoản Trần Huệ H2. Tổng cộng, Đ chiếm đoạt của bà H số tiền là 91.652.000₫ (Chín mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi hai ngàn đồng). Sau khi tiền vào tài khoản, Đ sử dụng một phần để nạp vào tài khoản chơi game của Đ và Nguyễn Lê Quang V. Còn lại, Đ chuyển tiếp vào tài khoản Ngân hàng TMCP Q (V1) số tài khoản 012340321 mang tên Nguyễn Thị Ngọc D1 do Đ mua nhưng Đ và V cùng quản lý, sử dụng chung để V “rửa tiền” theo sự phân công trước đó để che dấu nguồn gốc tiền bất hợp pháp nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan có thẩm quyền. Nguyễn Xuân D biết rõ số tiền do Đ, V chuyển khoản cho mình do lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác mà có nhưng vẫn phối hợp đi rút tiền mặt tại các cây ATM giao lại cho Đ và V vì được trả công từ 500.000đồng đến 1.000.000đồng.
Xét quá trình phạm tội, giữa bị cáo Đ và bị cáo V có sự cấu kết chặt chẽ, bàn bạc cách thức phạm tội, phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể. Bị cáo D biết rõ các bị cáo này có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng vẫn giúp sức cung cấp tài khoản ngân hàng và trực tiếp rút tiền tại các cây ATM để hưởng lợi. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp “Có tổ chức” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại các điểm a, c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 29 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội, gây dư luận không tốt đến việc khai thác sử dụng các trang mạng xã hội đã được Nhà nước cho phép. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Quang Đ phạm tội tích cực nhất, là người chủ mưu, trực tiếp mua các tài khoản ngân hàng trên mạng để sử dụng vào việc phạm tội, trực tiếp phân công chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện việc che dấu nguồn gốc số tiền bất hợp pháp chiếm đoạt được. Trong vụ án này, bị cáo đã trực tiếp chiếm quyền sử dụng tài khoản Facebook: "Dan M" và giả danh chủ tài khoản facebook "Dan My" gian dối chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Túy H số tiền 91.652.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Lê Quang V do đã cùng bàn bạc và được Nguyễn Quang Đ phân công từ trước nên khi thấy tiền Đ chuyển từ tài khoản Trần Huệ H2 sang tài khoản Ngân hàng TMCP Q (V1) số tài khoản 012340321 mang tên Nguyễn Thị Ngọc D1 đã thực hiện một loạt hành vi mua USDT (tiền ảo) rồi chuyển số tiền USDT cho tài khoản V đã đăng ký trên trang mạng Remitano. Khi chuyển xong thì Vũ đổi số tiền USDT này trên trang Remitano thành tiền Việt Nam rồi chuyển tiếp sang tài khoản Ngân hàng TMCP Q1 (MB) số tài khoản: 0971456090 mang tên Nguyễn Xuân D nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan có thẩm quyền nên đối với các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, mức án của bị cáo Đ là người chủ mưu, thực hành tích cực phải cao hơn so với bị cáo V là người giúp sức tích cực.
Bị cáo Nguyễn Xuân D không biết cách thức phạm tội cụ thể nhưng biết rõ Đ, V thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng vẫn cho các bị cáo ở tại nhà của mình và lo việc ăn uống hàng ngày do được trả công 100.000 đồng/ngày. Đã cung cấp tài khoản Ngân hàng thuộc sở hữu của mình từ trước để nhận tiền chuyển khoản rồi trực tiếp rút tiền mặt tại các cây ATM giao lại cho Đ và V để hưởng lợi từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng cho mỗi lần rút tiền thành công, giúp sức cho các bị cáo che dấu nguồn gốc tiền bất hợp pháp nên đối với bị cáo cũng cần xử lý nghiêm tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Lê Quang V đã tự nguyện bồi thường cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo Đ có công với cách mạng, đang thờ phụng bà mẹ Việt Nam anh hùng và liệt sĩ, bị cáo Đ được Hội người khuyết tật-nạn nhân D3 và bảo trợ địa phương nơi cư trú ghi nhận Tấm lòng vàng ủng hộ nạn nhân chất độc da cam, cha bị cáo D thuộc đối tượng người có công được chính quyền địa phương xác nhận. Quá trình điều tra, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ và V. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với cả ba bị cáo nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Do các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Lê Quang V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Xuân D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nhưng là người giúp sức trong vụ án đồng phạm có vai tró không đáng kể nên được HĐXX áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Quang Đ ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Đối với các bị cáo Nguyễn Xuân D và Nguyễn Lê Quang V có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 hợp nhất Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, giao về chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tại phiên tòa cũng đảm bảo tác dục giáo dục.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Nguyễn Thị Túy H đã nhận bồi thường số tiền 91.652.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 14 promax màu tím, Số IMEI: 359761975290945; 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 13 promax màu xanh, Số IMEI: 351786563360774; 01 (Một) điện thoại đi động Iphone XS max màu vàng, số IMEI: 353107101952345; 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 7 màu đen, số IMEI: 355330081347819; 01 (Một) điện thoại đi động Nokia màu xanh, Số IMEI: 357705107261276 tạm giữ của Nguyễn Quang Đ là phương tiện Đ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà Nước.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động Iphone 14 promax màu tím số IMEI: 356266762596978, kèm theo sim mang số thuê bao 0375267310; 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 13 màu xanh, số IMEI: 356122172113088; 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 12 promax màu xanh, số IMEI: 356714110030885, kèm theo sim mang số thuê bao 0389151371 (bị vỡ mặt sau điện thoại) tạm giữ của Nguyễn Lê Quang V là phương tiện V sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà Nước.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động Iphone 6s màu hồng, Số IMEI: 35862707142001 tạm giữ Nguyễn Xuân D là phương tiện D4 sử dụng vào việc phạm tội nên cân tịch thu sung ngân sách Nhà Nước.
Đối với 01 (Một) điện thoại đi động Nokia 210 màu đen số seri: 357744107443741 kèm theo sim mang số thuê bao 0828.064.789; 01 (Một) máy tính bảng Ipad Air 2 màu vàng, số IMEI: 356970063252179; 01 (Một) Router Wifi màu trắng của nhà mạng V3, Mode ZXHNF 616 tạm giữ của Nguyễn Xuân D không liên quan đến việc phạm tội thì cần tuyên trả cho bị cáo cũng phù hợp.
[8] Về những vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với tài khoản ngân hàng số [...] mang tên Trần Huệ H2 tại Ngân hàng TMCP Q (V1): qua xác minh chủ tài khoản là Trần Huệ H2 (sinh ngày 07/09/2000; trú ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau). Tuy nhiên xác minh tại địa phương không có công dân Trần Huệ H1 (lai lịch nêu trên). Qua tra cứu số căn cước công dân [...] là của công dân tên Nguyễn Việt S1 (sinh ngày: 07/09/2000, trú Á, xã L, huyện C, tỉnh Cà Mau) nên xác định thông tin trên tài khoản là giả.
- Đối với tài khoản Ngân hàng TMCP Q (V1) số tài khoản 012340321 mang tên Nguyễn Thị Ngọc D1: đã gửi yêu cầu tra thông tin tài khoản nhưng chỉ có kết quả sao kê giao dịch tài khoản, không có thông tin về chủ tài khoản. Cơ quan CSĐT Công an quận T tiếp tục xác minh làm rõ.
- Đối với tài khoản Ngân hàng TMCP K (T6) số tài khoản 5885588888 mang tên Trần Thị Thùy L2 đã gửi văn bản yêu cầu trích sao thông tin chủ tài khoản nhưng chưa có kết quả.
- Đối với tài khoản Ngân hàng TMCP N (V2) số tài khoản 9394308663 mang tên Nguyễn Thị T4 do Nguyễn Lê Quang V sử dụng chuyển khoản trong hoạt động chơi game: qua xác minh tài khoản này đã đóng, ngừng hoạt động vào thời điểm ngày 19/04/2023 nên không liên quan đến vụ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn Thị Túy H vào ngày 03/5/2023.
- Đối với tài khoản Ngân hàng TMCP Á (A) số tài khoản 34144317 mang tên Hồ Thị Mỹ D2 do Nguyễn Lê Quang V mua trên mạng sử dụng vào hoạt động lừa đảo từ ngày 05/6/2023 nên không liên quan đến vụ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn Thị Túy H vào ngày 03/5/2023.
- Đối với các giao dịch chuyển tiền vào các tài khoản ngân hàng của các bị cáo nghi ngờ có được từ hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có nhưng hiện nay chưa xác định được người bị hại hoặc người trình báo nên Cơ quan CSĐT Công an quận T không có cơ sở để điều tra xử lý. Khi nào có thông tin xác định được người bị hại có liên quan đến các bị cáo trong vụ án, Cơ quan CSĐT Công an quận T sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quang Đ (tên gọi khác: Đ1), Nguyễn Lê Quang V và Nguyễn Xuân D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật hình sự;
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quang Đ (tên gọi khác: Đỏ) 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/06/2023 đến ngày 08/08/2023.
- - Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Lê Quang V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08/05/2024.
- Giao bị cáo Nguyễn Lê Quang V về UBND phường phường 3, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Xuân D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08/05/2024.
- Giao bị cáo Nguyễn Xuân D về UBND phường phường A1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 14 promax màu tím, Số IMEI: 359761975290945;
- + 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 13 promax màu xanh, Số IMEI: 351786563360774;
- + 01 (Một) điện thoại đi động Iphone XS max màu vàng, số IMEI: 353107101952345;
- + 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 7 màu đen, số IMEI: 355330081347819;
- + 01 (Một) điện thoại đi động Nokia màu xanh, Số IMEI: 357705107261276;
- + 01 (Một) điện thoại di động Iphone 14 promax màu tím số IMEI: 356266762596978, kèm theo sim mang số thuê bao 0375.267310;
- + 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 13 màu xanh, số IMEI: 356122172113088;
- + 01 (Một) điện thoại đi động Iphone 12 promax màu xanh, số IMEI: 356714110030885, kèm theo sim mang số thuê bao 0389.151371 (bị vỡ mặt sau điện thoại).
- + 01 (Một) điện thoại di động Iphone 6s màu hồng, Số IMEI: 35862707142001;
- - Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Xuân D:
- + 01 (Một) điện thoại đi động Nokia 210 màu đen số seri: 357744107443741 kèm theo sim mang số thuê bao 0828.064789;
- + 01 (Một) máy tính bảng Ipad Air 2 màu vàng, số IMEI: 356970063252179;
- + 01 (Một) Router Wifi màu trắng của nhà mạng Viettel, Mode ZXHNF 616.
- (Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/04/2024, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê đang quản lý).
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án
Các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Lê Quang V và Nguyễn Xuân D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
(HĐXX đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo Nguyễn Lê Quang V và Nguyễn Xuân D)
|
Nơi nhận: - TAND TP Đà Nẵng; - Viện kiểm sát ND TP Đà Nẵng; - Sở Tư pháp TP Đà Nẵng; - Viện kiểm sát ND quận T; - Công an quận T; - Chi cục THADS quận T; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - UBND phường 1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; - UBND phường 3, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; - Lưu hồ sơ vụ án. | >
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thủy |
Bản án số 58/2024/HS- ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 58/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Lê Quang V và Nguyễn Xuân D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
