Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 58/2024/HS-ST

Ngày 11 - 6 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Chung

Ông Nguyễn Văn Chấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên;

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 28/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Tạ Quang T, sinh năm 1988 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Quang N và bà Nguyễn Thị N1; có vợ là Phương Thị Thanh N2 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2023 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
  2. Tạ Hữu M, sinh năm 1993 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn H và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Bùi Thị L1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2023 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
  3. Tạ Hữu C, sinh năm 2003 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn H và bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2023 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt
  4. Đoàn Trung H1, sinh năm 1983 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Tổ dân phố K, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn H2 và bà Nguyễn Thị C1; có vợ là Trương Thị L2 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2023 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Anh N3, sinh năm 1999; nơi cư trú: Bãi giữa S, phường N, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt
  2. Nguyễn Văn D, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn X, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 40 phút ngày 14/10/2023, Công an huyện L kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ H3 ở thôn X, xã C, huyện L phát hiện tại phòng 304, tầng 3 của nhà nghỉ H3 có các đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Đoàn Trung H1, Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu C và Lê Anh N3. Vật chứng thu giữ được:

  • Tại mặt bàn kính trong phòng 304 thu giữ: Chất tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút hình trụ tròn được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng gắn với 03 vỏ đầu lọc thuốc lá bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng; 02 mảnh viên nén màu nâu (đều nghi là ma túy); 01 thẻ nhựa; tất cả được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “QT1”.
  • Tại túi quần phía trước bên trái của Tạ Hữu M: 01 túi nilon màu trắng, được hàn kín, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy), được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “QT2”; 01 bật lửa màu đỏ.

Ngoài ra còn thu giữ của Tạ Hữu M 01 xe mô tô nhãn hiệu FUNTERNECO, màu đen, biển kiểm soát (sau đây viết tắt là BKS) 98M4-9570, số tiền 50.000 đồng; thu giữ của Lê Anh N3 01 điện thoại Iphone 6S màu vàng, số Imei: 358605074025564; thu giữ của Tạ Quang T 01 ví da màu đen, bên trong đựng số tiền 110.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, BKS 98F1-140.56, 01 điện thoại OPPO màu đen số Imei: 868125043533211; thu giữ của Đoàn Trung H1 01 xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT, màu đỏ đen, BKS 98Y4-2973, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh số Imei: 354687761650098/01; thu giữ của Tạ Hữu C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng số Imei: 359310062023478, số tiền 3.465.000 đồng.

Tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Đoàn Trung H1, Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu C và Lê Anh N3, kết quả: H1, T, M, C, N3 đều dương tính với ma túy Ketamine; H1, T và M còn dương tính với ma tuý MDMA và các loại ma tuý khác. Cơ quan điều tra tiến hành thu, niêm phong mẫu nước tiểu của H1, T, M, C và N3 để gửi giám định.

Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng nghi là ma túy và mẫu nước tiểu của các đối tượng. Tại Kết luận giám định số 2117/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận:

  • Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu QT1 gửi giám định có khối lượng là 0,4105 gam là ma túy, loại ma túy Ketamine.
  • Chất tinh thể màu trắng bám dính trên 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng bên trong phong bì thư ký hiệu QT1 gửi giám định là ma túy, loại ma túy Ketamine; không xác định được khối lượng.
  • 02 mảnh viên nén màu xám bên trong phong bì thư ký hiệu QT1 gửi giám định có khối lượng 0,1873 gam là ma túy, loại ma túy MDMA.
  • Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu QT2 gửi giám định có khối lượng 0,6727 gam là ma túy, loại ma túy Ketamine.
  • Mẫu nước tiểu trong 03 chai nhựa ký hiệu M1, M3, M4 (của M, T, H1) gửi giám định tìm thấy thành phần chất ma túy MDMA và Ketamine.
  • Mẫu nước tiểu trong 02 chai nhựa ký hiệu M2, M5 (của Chiều, N3) gửi giám định tìm thấy thành phần chất ma túy Ketamine.

Quá trình điều tra các đối tượng khai:

Đoàn Trung H1, Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu C có mối quan hệ quen biết xã hội. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/10/2023, Tạ Quang T, Tạ Hữu MTạ Hữu C đang ăn tối tại quán ăn ở tổ dân phố S, thị trấn P, huyện L, Bắc Giang thì T gọi điện thoại cho Đoàn Trung H1 rủ H1 đến ăn uống cùng nhưng H1 đang ăn uống ở chỗ khác nên không đến được. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, T đi xe mô tô một mình, M điều khiển xe mô tô chở Chiều ngồi sau cùng đi về, trên đường đi T nhận được cuộc gọi của H1 bảo: “Đặt mua đồ đi để mấy anh em ngồi, ai có tiền thì cứ bỏ ra trước”. T hiểu ý của H1 bảo đặt mua ma tuý loại Ke (Ketamine) và ma túy Kẹo (MDMA) về để cùng sử dụng, T đồng ý. Sau đó T, M, C về đến quán trà chanh tại cổng Trung tâm Y tế huyện L để uống nước. T nói với M và Chiều việc H1 rủ mua ma túy về để cùng nhau sử dụng thì M, C đồng ý, rồi M lấy điện thoại của T gọi cho H1 để hỏi địa điểm sử dụng mà túy thì H1 bảo đến nhà nghỉ H3 ở xã C, huyện L. Sau đó, M, T, C quay lại để gặp H1. Trên đường đi, M lấy điện thoại của T bấm số, gọi điện cho một người không quen biết hỏi mua ma túy (M khai chỉ nhớ số điện thoại nhưng không biết họ tên, địa chỉ của người này), M đưa điện thoại cho T để T đặt mua 3.000.000 đồng ma túy KK1, T bảo với người đó gọi cho một nhân viên nữ đến nhà nghỉ H3. Khi T, M và C đi đến khu vực cầu M thuộc xã C, huyện L thì gặp H1 đi xe mô ngược chiều, tất cả cùng nhau đi vào nhà nghỉ H3. T lấy căn cước công dân đưa cho lễ tân nhà nghỉ thuê 02 phòng (số C, 304) để sử dụng ma túy. Sau đó M đi lên phòng 303 còn T, H1 và C lên phòng 304.

Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T nhận được cuộc gọi của người đàn ông bán ma tuý, T bảo C xuống cửa nhà nghỉ để lấy ma túy. Chiều đi bộ xuống trước cửa nhà nghỉ thấy có một người thanh niên lạ mặt ngồi trên xe mô tô, Chiều ra gặp người thanh niên này và đưa số tiền 3.000.000 đồng, người này nhận tiền xong chỉ tay ra ven đường, Chiều nhìn theo hướng người này chỉ thì thấy có 01 gói giấy vệ sinh màu trắng ở ven đường, C đi ra nhặt lên rồi kiểm tra thì thấy bên trong để 02 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu xám, Chiều biết đó là ma túy loại KK1. Chiều cầm gói ma tuý đi lên phòng 304 để tại ngăn kéo bàn uống nước. Một lúc sau M từ phòng 303 đi sang phòng 304, cùng lúc này có nhân viên nữ là Lê Anh N3 mở cửa đi vào phòng 304. M mở ngăn kéo bàn ra lấy ma túy để lên bàn, M bẻ 02 viên ma túy K1 làm bốn phần, M uống nửa viên, đưa cho N3, H1T mỗi người nửa viên, N3 không sử dụng ma túy Kẹo mà để lên bàn. Sau đó M hỏi có ai có đồ để xào ke không thì T lấy từ ví ra 01 chiếc thẻ nhựa và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đưa cho M. M cuộn tờ tiền lại thành hình trụ, cố định bởi 03 vỏ đầu lọc thuốc lá để làm ống hút. T đẩy mặt kính bàn ra cho M dùng bật lửa hơ nóng phía dưới, M đổ 01 túi ma tuý Ke lên mặt kính, dùng thẻ nhựa để dằm nhỏ ma túy và kẻ thành các đường nhỏ (gọi là xào ke). Sau đó lần lượt H1, T, M, N3 và Chiều ra sử dụng ma túy bằng cách dùng ống hút cuộn bằng tờ tiền để hít ma tuý vào mũi. Gói ma túy K còn lại M đút vào túi quần bên trái phía trước của mình. Sau khi các đối tượng đã sử dụng ma tuý thì tổ công tác Công an huyện L đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra Tạ Hữu M, Tạ Quang TTạ Hữu C đều khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người bán ma túy nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Ông Nguyễn Văn D là chủ nhà nghỉ H3 cho Tạ Quang T và các đối tượng cùng đi thuê phòng nghỉ, nhưng ông D không biết các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong cơ sở kinh doanh do mình quản lý. Hành vi của ông D không cấu thành tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã gửi văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông D.

Lê Anh N3 được Tạ Quang T gọi đến nhưng N3 không thực hiện hành vi gì để phục vụ các đối tượng sử dụng chất ma túy. Tại đây, N3 đã sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 11/4/2024 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với N3 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu CĐoàn Trung H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c và g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu CĐoàn Trung H1 đều thống nhất trình bày: Nội dung bản Cáo trạng phản ánh đúng với hành vi của các bị cáo, đúng với sự việc xảy ra; các bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.

Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm c, g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự:

  • Xử phạt bị cáo Tạ Quang T từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội từ 03 năm 03 tháng đến 04 năm tù. Miễn phạt bổ sung.
  • Xử phạt bị cáo Tạ Hữu M từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Miễn phạt bổ sung.
  • Xử phạt bị cáo Tạ Hữu C từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Miễn phạt bổ sung.
  • Xử phạt bị cáo Đoàn Trung H1 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Miễn phạt bổ sung.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu 02 phong bì thư ký hiệu “QT1” và “QT2”, bên trong đều đựng chất ma túy còn lại sau giám định; 01 phong bì thư ký hiệu “A1” bên trong có 01 thẻ nhựa mang tên Tạ Quang T; 01 bật lửa màu đỏ để tiêu hủy.
  • Tịch thu của Tạ Quang T 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “A2”, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen; tịch thu của Đoàn Trung H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh để sung vào công quỹ Nhà nước.
  • Trả lại Tạ Hữu C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng số Imei: 359310062023478, số tiền 3.465.000 đồng; trả lại Tạ Quang T 01 ví da màu đen, số tiền 110.000 đồng; trả lại Tạ Hữu M số tiền 50.000 đồng. Nhưng tạm giữ số tiền của các bị cáo để đảm bảo thi hành án về án phí.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu CĐoàn Trung H1 đều nhất trí với lời luận tội và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, các bị cáo đều không tranh luận gì. Nói lời sau cùng các bị cáo đều nhận thức hành vi của các bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu C và Đoàn Trung H1 luôn thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Buổi tối ngày 14/10/2023, các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu CĐoàn Trung H1 rủ nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó Đoàn Trung H1 là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác cùng nhau sử dụng ma túy và lựa chọn địa điểm sử dụng ma túy là nhà nghỉ H3; Tạ Quang T đặt mua ma túy, gọi nhân viên nữ là Lê Anh N3 đến nơi sử dụng ma túy, chuẩn bị thẻ nhựa, tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng làm công cụ để sử dụng ma túy; Tạ Hữu C ứng tiền ra để mua ma túy, trực tiếp giao dịch mua ma túy đem lên phòng nghỉ đã thuê để cùng nhau sử dụng; Tạ Hữu M cung cấp cho T số điện thoại của người bán ma túy để T đặt mua, M dùng tờ tiền 10.000 đồng T đưa cho cuộn lại làm ống hút ma túy, M phân chia ma túy MDMA cho mọi người, đổ ma túy Ketamine ra mặt bàn kính dùng bật lửa đốt hơ nóng phía dưới, dùng thẻ nhựa dằm nhỏ, kẻ thành từng đường (xào ke) mời mọi người sử dụng. Các bị cáo H1, T, M, C và đối tượng N3 đều sử dụng ma túy; trong đó H1, TM đều sử dụng cả hai loại ma túy là MDMA và Ketamine; Chiều và N3 chỉ sử dụng một loại ma túy Ketamine. Sau khi các bị cáo và đối tượng Lê Anh N3 đã sử dụng ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại mặt bàn kính 0,4105 gam ma túy loại Ketamine, 02 mảnh viên nén là ma túy MDMA khối lượng 0,1873 gam; thu giữ trong túi quần của Tạ Hữu M đang mặc 0,6727 gam ma túy loại Ketamine; ngoài ra còn thu giữ 01 thẻ nhựa, 01 ống hút ma túy được cuộn bằng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 bật lửa màu đỏ.

[3] Hành vi trên của các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu CĐoàn Trung H1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất gây nghiện, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp; mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là để cùng nhau sử dụng ma túy, ngoài ra các bị cáo còn cho đối tượng Lê Anh N3 cùng sử dụng ma túy. Hành vi của các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu CĐoàn Trung H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[4] Các bị cáo rủ nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mỗi bị cáo thực hiện những công việc nhất định. Như vậy, các bị cáo đã cùng cố ý thực hiện một tội phạm nhưng các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ hoặc câu kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, trường hợp này các bị cáo phạm tội đồng phạm có tính chất giản đơn.

[5] Mặc dù các bị cáo đã thống nhất mua ma túy với mục đích để sử dụng trong ngày 14/10/2023, các bị cáo và đối tượng N3 đều đã sử dụng ma túy nhưng không sử dụng hết, khi bị bắt quả tang thu giữ được 0,1873 gam ma túy loại MDMA và 1,0832 gam ma túy loại Ketamine; các bị cáo đều khai nếu không bị bắt quả tang thì các bị cáo cũng không tiếp tục sử dụng ma túy nữa, số ma túy còn lại các bị cáo xác định là của chung nên sẽ gói lại đem về để cùng nhau sử dụng vào ngày hôm khác hoặc sẽ chia nhau đem về để mỗi bị cáo sử dụng riêng. Hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c và g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[6] Hội đồng xét xử xác định bản Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu C và Đoàn Trung H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c và g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[7] Xét thấy ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy sẽ bị tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng các bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập và dẫn đến phạm tội. Chứng tỏ các bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân các bị cáo, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Căn cứ vào tính chất của tội phạm, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.

[8] Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Tạ Quang TTạ Hữu M đều thực hiện chuỗi hành vi rất tích cực, hai bị cáo giữ vai trò chính và ngang bằng nhau; Đoàn Trung H1 là người khởi xướng, lựa chọn địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tạ Hữu C ứng tiền ra để mua ma túy và trực tiếp giao dịch mua ma túy nhưng Chiều chỉ thực hiện theo sự điều hành của T. Hội đồng xét xử xác định vai trò của H1 và Chiều ngang bằng nhau và xếp sau TM.

[9] Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu CĐoàn Trung H1 luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trên quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có

Nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt.

Căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ các bị cáo được hưởng, hình phạt giành cho các bị cáo đối với cả hai tội đều ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

[10] Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 và khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền và các hình phạt bổ sung khác. Xét thấy các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[11] Về vật chứng:

Chất ma túy là loại chất gây nghiện bị pháp luật cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành; những đồ vật gồm 01 thẻ nhựa mang tên Tạ Quang T, 01 bật lửa màu đỏ đều là công cụ các bị cáo dùng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng không có giá trị. Vì vậy, cần phải tịch thu toàn bộ khối lượng chất ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong hai phong bì thư QT1, QT2 và các đồ vật liên quan đến tội phạm như nêu trên để tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh thu giữ của Đoàn Trung H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen thu giữ Tạ Quang T; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “A2”. Xét thấy H1, T đã sử dụng điện thoại liên lạc với nhau để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là của T đưa cho M để cuộn làm ống hút ma tuý; vì vậy cần phải tịch thu 02 chiếc điện thoại và số tiền trên để sung vào công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng, số tiền 3.465.000 đồng thu giữ của Tạ Hữu C; 01 ví da màu đen, số tiền 110.000 đồng thu giữ của Tạ Quang T; số tiền 50.000 đồng thu giữ của Tạ Hữu M. Xét thấy những tài sản trên không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho C, TM, nhưng tạm giữ số tiền của các bị cáo để đảm bảo thi hành án về án phí.

Khi bắt quả tang còn thu giữ của Tạ Hữu M 01 xe mô tô biển số 98M4-9570, quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là tài sản của ông Tạ Văn H, trú tại thôn T, xã B, huyện L ; thu giữ của Tạ Quang T 01 xe mô tô biển số 98F1-140.56, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Tạ Quang C2, trú tại thôn P, xã T, huyện L; thu giữ của Đoàn Trung H1 01 xe mô tô biển số 98Y4-2973, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Trương Thị L2, trú tại Tổ dân phố K, thị trấn P, huyện L; thu giữ của Lê Anh N3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng. Do các tài sản trên không liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra đã xử lý, trả lại các tài sản trên cho các chủ sở hữu là đúng quy định, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[12] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm c và g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự:

  1. Xử phạt bị cáo Tạ Quang T 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 06 ((sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/10/2023).
  2. Xử phạt bị cáo Tạ Hữu M 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/10/2023).
  3. Xử phạt bị cáo Tạ Hữu C 02 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/10/2023).
  4. Xử phạt bị cáo Đoàn Trung H1 02 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/10/2023).

2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì thư ký hiệu “QT1” và “QT2”; 01 thẻ nhựa mang tên Tạ Quang T được niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “A1”; 01 bật lửa màu đỏ để tiêu hủy.
  • Tịch thu của Tạ Quang T 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “A2”, 01 điện thoại OPPO màu đen số Imei: 868125043533211 để sung vào công quỹ Nhà nước.
  • Tịch thu của Đoàn Trung H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh số Imei: 354687761650098/01 để sung vào công quỹ Nhà nước.
  • Trả lại Tạ Hữu C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng số Imei: 359310062023478, số tiền 3.465.000 đồng (Ba triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án về án phí.
  • Trả lại Tạ Quang T 01 ví da màu đen, số tiền 110.000 đồng (Một trăm mười nghìn đồng), nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án về án phí.
  • Trả lại Tạ Hữu M số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án về án phí.

Những vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

3- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Các bị cáo Tạ Quang T, Tạ Hữu M, Tạ Hữu CĐoàn Trung H1; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • Bị cáo, đương sự
  • VKSND huyện Lục Nam
  • VKSND tỉnh Bắc Giang
  • TAND tỉnh Bắc Giang
  • CQCSĐT Công an huyện Lục Nam
  • Chi cục THADS huyện Lục Nam
  • Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang
  • Lưu hồ sơ, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 58/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T và các đồng phạm rủ nhau mua ma tuý, chuẩn bị công cụ và thuê phòng nghỉ để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger