TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/HS-PT Ngày: 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đại Long
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tố Như
Ông Mai Nam Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Đạt-Thư ký Tòa án tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2024/TLPT-HS ngày 01/02/2024, do bị kháng cáo và có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HSST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXPT-HS ngày 11 tháng 03 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/HSPT-QĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo.
1. Hà Văn L, sinh ngày 07/01/2004; Giới tính: Nam; CCCD số 03820424394; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH.
HKTT và Nơi ở hiện nay: Số A L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn L1 và bà Lê Thị V; Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; nhân thân: Ngày 13/01/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 14 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022.
Bị bắt tạm giam ngày 22/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
2. Nguyễn Văn M, sinh ngày 23/11/2003; Giới tính: Nam; CCCD số [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH.
HKTT và Nơi ở hiện nay: Phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P và bà Đỗ Thị A; Có vợ là Lê Thị Mai A1; Có 01 con sinh năm 2023; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 20/9/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị bắt tạm giam ngày 22/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
3. Bùi Nhật L2, sinh ngày 29/7/2003; Giới tính: Nam; CCCD số [...]; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH.
HKTT và N ở hiện nay: Phòng 307 D1 nhà 17 Chung cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Đức T và bà Mai Thị T1; Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 13/01/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 14 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022; Nhân thân: Ngày 22/5/2020 bị Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”.
Bị bắt tạm giam ngày 22/9/2023 đến ngày 09/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1999 (vắng mặt)
HKTT: Phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Xuân Đ, sinh năm 2000
HKTT: Phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 29/7/2023, sau khi ăn sinh nhật tại nhà Bùi Nhật L2 xong thì Bùi Nhật L2, Nguyễn Văn M, Hà Văn L và anh Lê Bá T2 rủ nhau đến Quảng trường L thuộc phường Đ, thành phố T để uống nước. Bùi Nhật L2 điều khiển xe chở Nguyễn Văn M còn Lê Bá T2 chở Hà Văn L. Khi đi đến quán bán nước của anh Lê Xuân Đ gần vị trí đài phun nước của Quảng trường thì Hà Văn L phát hiện thấy anh Nguyễn Văn C đang ngồi uống nước tại quán của anh Đ. Thấy anh C nhìn, cho rằng anh C nhìn đểu mình nên Hà Văn L xuống xe chạy đến chỗ anh C ngồi, dùng tay vả vào mặt anh C và cầm chiếc điếu cày làm bằng ống nứa, một phần bọc đồng để ở quán nước đánh gây thương tích cho anh C.
Nguyễn Văn M thấy Hà Văn L đánh anh C cũng lao vào dùng tay đấm vào mặt anh C và cầm ghế nhựa đánh vào người anh C. Được mọi người can ngăn, anh C bỏ chạy lên bãi cỏ hướng về phía đài phun nước thì Bùi Nhật L2 đi bộ phía sau nói với theo “Anh ơi, không có việc chi đâu, quay lại lấy xe đi, hôm sau giải quyết”. Anh C nghe thế liền đi bộ quay lại quán nước thì Bùi Nhật L2 dùng tay đấm vào mặt anh C. Bị đánh, anh C bỏ chạy sang quán nước bên cạnh của chị Bùi Lê Huyền T3 thì Bùi Nhật L2 đuổi theo cầm ghế nhựa đánh vào người anh C. Anh C cầm ghế nhựa tại quán của chị T3 giơ lên chống trả thì bị Hà Văn L và Nguyễn Văn M tiếp tục lao vào dùng tay chân và ghế nhựa đánh anh C. Anh C bỏ chạy thoát. Hà Văn L, Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2 lên xe ra về.
Hậu quả: Anh C phải đi Bệnh viện Đ1, tỉnh Thanh Hóa điều trị các vết thương.
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 30/7/2023 thể hiện vết thương như sau:
- 01 vết rách da chảy máu tại cẳng chân phải có KT(0,2x2)cm;
- 01 vết rách da chảy máu tại cổ tay phải có KT (0,3x3,5)cm
- Tại mắt trái có vùng thâm, sưng;
- 01 vết xước da không chảy máu tại phần đầu bên trái KT 0,1x3,5cm;
- Các vết thâm bầm, xước da tại vùng đầu gối trái, đầu gối phải, cánh tay.
- Vết sưng không chảy máu tại đỉnh đầu, thái dương.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1382/KLTTCT-PYTH, ngày 31/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Văn C được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Điều 4 Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y) là 12% (Mười hai phần trăm).
Về phần dân sự: Giữa các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau về phần bồi thường thiệt hại. Anh Nguyễn Văn C không có yêu cầu bồi thường gì. Anh C có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Anh Lê Xuân Đ bị hư hỏng 01 chiếc điếu cày làm bằng ống nứa bọc kim loại và 01 chiếc ghế nhựa. Anh Đ không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
Đối với anh Lê Bá T2 là người đi cùng nhóm Hà Văn L nhưng anh T2 chỉ can ngăn các bị cáo, không tham giá đánh hay xúi giục các bị cáo gây thương tích cho anh C nên không có căn cứ để xử lý.
Tại Bản án số 73/2023/HSST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa đã quyết định: Căn cứ vào:
Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hà Văn L và Bùi Nhật L2.
Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn M.
Tuyên bố các bị cáo: Hà Văn L, Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2 phạm tội “Cố ý gây thương tích” .
Xử phạt:
- Bị cáo Hà Văn L 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/9/2023.
- Bị cáo Nguyễn Văn M 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 272/2022/HS-ST ngày 20/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 69 (Sáu mươi chín) tháng tù. (Bằng 05 năm 09 tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/9/2023.
- Bị cáo Bùi Nhật L2 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành bản án, được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 22/9/2023 đến ngày 09/10/2023.
* Kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03 tháng 01 năm 2024 và ngày 09/01/2024 bị cáo Bùi Nhật L2 và Nguyễn Văn M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Nhật L2 và Nguyễn Văn M vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.
* Kháng nghị: Tại quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-P7 ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoa đã: Kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HSST ngày 29/12/2023 của TAND Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, phần áp dụng tình tiết tăng nặng đối với các bị cáo Hà Văn L, Bùi Nhật L2 và hình phạt đối với 3 bị cáo Hà Văn L, Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2.
Đề nghị Tòa nhân dân tỉnh T căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, sửa bản án hình sự theo hướng:
Không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với các bị cáo Hà Văn L, Bùi Nhật L2.
Giảm hình phạt cho các bị cáo Hà Văn L, Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Giữ nguyên kháng nghị, đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, sửa bản án hình sự theo hướng:
Không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với các bị cáo Hà Văn L, Bùi Nhật L2.
Giảm hình phạt cho các bị cáo Hà Văn L, Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2 mỗi bị cáo với mức từ 6 (sáu) đến 9 (chín) tháng tù, buộc các bị cáo phải chấp hành phần hình phạt còn lại theo đúng quy định của pháp luật.
Các bị cáo trình bày: Đồng ý với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- * Về thủ tục kháng nghị: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa làm trong hạn luật định, tại phiên tòa Viện kiểm sát không rút kháng nghị, không thay đổi, bổ sung nên kháng nghị được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- * Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2 trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:
Vào khoảng 23 giờ ngày 29/7/2023, tại quán bán nước của anh Lê Xuân Đ và quán bán nước của chị Bùi Lê Huyền T3 gần tượng đài phun nước thuộc Quảng trường L, phường Đ, thành phố T. Hà Văn L, Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2 đã có hành vi dùng tay chân, ghế nhựa, điếu cày làm bằng nứa, nỏ điếu bọc bằng kim loại gây thương tích cho anh Nguyễn Văn C, làm tổn hại sức khoẻ là 12%.
Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất vụ án:
Vụ án thuộc tội phạm nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục, đồng thời phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.
[4]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá:
- Về đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với các bị cáo Hà Văn L, Bùi Nhật L2 vì ngày 13/01/2021 Hà Văn L và Bùi Nhật L2 bị TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, là tội nghiêm trọng, tại thời điểm này các bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi nên thuộc trường hợp được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS là phù hợp, có căn cứ.
- Về đề nghị giảm hình phạt cho các bị cáo Hà Văn L, Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, Nguyễn Văn M thì đang có tiền án, hành vi của các bị cáo là coi thường pháp luật cụ thể là các bị cáo đang đi đường thấy anh C nhìn, cho rằng anh C nhìn đểu mình là vào quán dùng tay chân, ghế đánh người, trong khi đó các bị cáo đều đã từng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng không rút ra bài học để sữa chữa lỗi lầm, mặc dù mức độ thương tích của bị hại là 12% với hành vi của các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm hơn nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng cũng cần xem xét cho các bị cáo Hà Văn L và Bùi Nhật L2 không có tình tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo thành khẩn khai báo, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Nguyễn Văn M tham gia hiến máu nhân đạo nên các bị cáo được áp dụng chung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên chấp nhận giảm nhẹ một phần mức hình phạt mà cấp cơ sở đã tuyên là phù hợp.
Nên chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HSST ngày 29/12/2023 của TAND Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa về việc không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS đối với các bị cáo Hà Văn L, Bùi Nhật L2 và giảm hình phạt cho các bị cáo Hà Văn L, Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2 là phù hợp.
[5]. Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Nhật L2 và Nguyễn Văn M xin giảm nhẹ hình phạt: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo Bùi Nhật L2 không còn tình tiết tăng nặng, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong nhà, bị cáo Bùi Nhật L2 tuổi đời còn trẻ chưa có vợ con; bị cáo Nguyễn Văn M bố bị tâm thần nên chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Bùi Nhật L2 và Nguyễn Văn M là phù hợp.
[6]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo được chấp nhận kháng cáo và Viện kiểm sát kháng nghị nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[7]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn M; Bùi Nhật L2 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2023/HSST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa như sau:
Căn cứ vào:
Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hà Văn L và Bùi Nhật L2.
Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38; Điều 56; Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn M.
2.Tuyên bố các bị cáo: Hà Văn L, Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”
3.Xử phạt các bị cáo:
- Hà Văn Linh 3 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/9/2023.
- Nguyễn Văn Minh 31 (Ba mươi ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 30 (Ba mươi) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 272/2022/HS-ST ngày 20/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 63 (Sáu mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/9/2023.
- Bùi Nhật L2 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 22/9/2023 đến ngày 09/10/2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự giác đi chấp hành hoặc bắt thi hành án.
4. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 11, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Văn M và Bùi Nhật L2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Đại Long |
Bản án số 58/2024/HS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 58/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây thương tích
