Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HS-PT

Ngày: 07/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Kiên và ông Phạm Trung Thực.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 07/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 83/2024/HSPT ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn L, do có kháng cáo của bị hại Phạm Thị Anh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HSST ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

- Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Văn L, sinh ngày 16 tháng 9 năm 1989; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Duy L1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại có kháng cáo:

Chị Phạm Thị Anh T, sinh năm 1990; HKTT: xóm G, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở hiện nay: Số B N, phường M, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 1990; HKTT: Số C, ngõ D Đê L, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
  • + Chị Nguyễn Thanh H, sinh năm 1999; HKTT: SỐ B, ngõ E T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Duy L1, sinh năm 1958; HKTT: Khu phố N, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn L và chị Phạm Thị Anh T quen biêt nhau thông qua nhóm "Tử vi lí số" trên mạng xã hội Facebook từ khoảng thời gian cuối năm 2021. L sử dụng tài khoản facebook, zalo mang tên "Klein Nguyen" của mình để nhắn tin, gọi điện nói chuyện với chị T. Trong quá trình nói chuyện, do có kiến thức về tử vi, kinh dịch (thông qua việc đọc sách, tìm hiểu trên mạng) nên L và chị T thường chia sẻ, nói chuyện về các vấn đề tử vi, tâm linh liên quan đến cuộc sống, gia đình, công việc, con cái của chị T. Từ đó, chị T nghĩ rằng L có năng lực tâm linh và đã 2 lần chị T chủ động nhờ L và chuyển tiền cho L tổng cộng 30.000.000 (ba mươi triệu đồng) để L làm lễ, cầu cúng, giải hạn cho T và gia đình, con cái.

Lợi dụng quen biết, tin tưởng của chị Phạm Thị Anh T với mình, bản thân không có việc làm, nợ nần nhiều nên Nguyễn Văn L nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị T. Trong quá trình nói chuyện, L thường xuyên đưa ra các thông tin sai sự thật như khoe bản thân làm nghề thiết kế, xây dựng, làm nhiều công trình, dự án lớn ở nhiều nơi, có mức thu nhập cao, có các tài sản có giá trị là mảnh đất ở thành phố H, bản thân có thu nhập cao, có thể hoàn vốn nhanh. Để tạo lòng tin với chị T, bị cáo gửi nhiều hình ảnh về các công trình, bản vẽ (L copy từ trên mạng), khoe về việc được thiết kế, nhận làm dự án cho sân bay L, được nhà thầu Trung Quốc thuê, lấy đó làm lí do vay tiền rồi chiếm đoạt số tiền đã nhận. Do tin tưởng các thông tin mà L đưa ra là thật nên trong thời gian từ năm 2022 chị T đã nhiều lần cho L vay tiền, các lần vay tiền, L và chị T đều nói chuyện, trao đổi nhắn tin, gọi điện qua facebook, zalo. Tiền được chị T chuyển qua tài khoản cá nhân, đến tài khoản Ngân hàng M số 0800160441989 của L, cụ thể như sau:

  • Lần 1: Ngày 10/02/2022, L lấy lí do để làm công trình để hỏi vay chị T 12.000.000 (Mười hai triệu đồng) và được chị T đồng ý. Sau khi nhận tiền qua tài khoản, L đã chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
  • Lần 2: Ngày 21/3/2022, L lấy lí do cần tiền để trả lương cho công nhân và hỏi vay chị T 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng) và được chị T đồng ý. Sau khi nhận tiền qua tài khoản, L đã chiếm đoạt để trả nợ tiêu xài cá nhân hết.
  • Lần 3: Ngày 23/8/2022, L tiếp tục lấy lí do cần tiền để nâng cấp máy tính, phục vụ công việc thiết kế và hỏi vay 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu đồng). Chị T đồng ý và chuyển khoản cho L 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu đồng). Sau khi nhận được tiền, L đã trả nợ và tiêu xài hết.
  • Lần 4: Ngày 29/10/2022, L lấy lí do có người bác bị ốm, cần tiền gấp để cấp cứu chữa bệnh nên đã vay chị T 25.000.000. Do tin tưởng nên T tiếp tục chuyển khoản cho L số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu đồng). Sau khi nhận tiền, L đã trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.

Tổng số tiền mà L đã lừa đảo chiếm đoạt của chị T là: 187.000.000 đồng. Tất cả 04 lần chị T chuyển tiền cho L vay nêu trên, chị T đều chuyển từ số tài khoản của chị T là 0221000021497 mở tại Ngân hàng V chi nhánh N qua ứng dụng Internet Banking đến số tài khoản của L là 080011600441989 mở tại Ngân hàng M1. L hẹn với chị T là sẽ trả hết số tiền L vay của chị T vào ngày 10/3/2023 nhưng đến nay L chỉ trả chị T 11.000.000 đồng.

Sau khi vay được tiền chị T, L đã sử dụng số tiền trên vào việc trả nợ, mua bán và tiêu xài cá nhân. Nguyễn Văn L thường xuyên lấy lí do khất nợ với chị T, trốn tránh việc trả nợ, không làm việc, lao động, không có ý thức khắc phục đối với số tiền đã chiếm đoạt. Đến nay, số tiền còn lại là 176.000.000 đồng chị T đã nhiều lần yêu cầu L trả nhưng L đều trốn tránh không trả.

Ngày 24/4/2024 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố H cung cấp: Trong thời gian từ năm 2021 đến năm 2022 Nguyễn Văn L sinh ngày 16/9/1989, trú tại thôn A, xã L, thành phố H không có đăng ký thông tin sở hữu hay chuyển nhượng đối với thửa đất nào trên địa bàn thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

Ngày 25/4/2024 Tổng Công ty C – CTCP thuộc Uỷ ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp có văn bản trả lời. Trong năm 2021 Tổng Công ty không tổ chức cuộc thi nào liên quan đến việc thiết kế, diễn họa cho dự án Cảng HKQT L và đối với dự án thành phần 3 do ACV làm chủ đầu tư; Qua rà soát dự án thành phần C Cảng HKQT L do ACV làm chủ đầu tư, kết quả cho thấy ACV không tiếp nhận hồ sơ, bản vẽ thiết kế nào của cá nhân mang tên Nguyễn Văn L sinh ngày 16/9/1989, trú tại: Thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

Đối với số tiền 30.000.000 đồng chị T chuyển tiền cho L để L làm lễ, giải hạn. Chị T thừa nhận là tự nguyện nhờ L làm lễ hộ, không bị xúi giục hay cưỡng ép. Số tiền này vừa là tiền nhờ L làm lễ vừa là cảm ơn L, mặt khác L khẳng định đã tiến hành mua lễ, cúng giải hạn cho chị T nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác định L lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên của chị T.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị T yêu cầu L phải trả lại cho chị T 30.000.000 đồng mà chị T đã chuyển cho L để L làm lễ và số tiền 176.000.000 đồng L đã lừa đảo chiếm đoạt còn lại của chị T.

Tại bản án hình sự sơ thẩm 66/2024/HSST ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

Căn cứ vào Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a,e,f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 16/5/2024.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường cho chị Phạm Thị Anh T, sinh năm sinh năm 1990; HKTT: xóm G, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở hiện nay: Số B N, phường M, thành phố Đà Nẵng số tiền là 176.000.000 đồng (một trăm bảy mươi sáu triệu đồng). Bị cáo L được đối trừ số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) do bố bị cáo bị cáo đã nộp thay bị cáo tại biên lai thu tiền số 0000405 ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên để bồi thường cho chị T. Bị cáo L còn phải bồi thường tiếp cho chị Phạm Thị Anh T số tiền còn lại là 126.000.000 (một trăm hai mươi sáu triệu đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/9/2024, bị hại chị Phạm Thị Anh T kháng cáo toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HSST ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Chị Phạm Thị Anh T giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xem xét nội dung về việc bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo L đối với số tiền 30.000.000 đồng bị cáo đã gian dối, chiếm đoạt của chị thông qua việc chuyển tiền làm lễ; bị cáo chưa thành khẩn khai báo nhưng vẫn được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo là chưa thỏa đáng; chị T bổ sung yêu cầu bồi thường thiệt hại là tiền vé máy bay các lần đi lại từ Đà Nẵng ra Hưng Yên để giải quyết vụ án; đề nghị bị cáo phải trả tiền thiệt hại số tiền chị phải đi vay lãi để cho bị cáo vay lại và các thiệt hại khác. Chị T xác định có nhận được khoảng ba lá bùa do bị cáo L gửi cho chị kèm theo lời dặn dò về việc sử dụng, vị trí cất giữ các lá bùa. Chị T cũng xác định, khi chị chuyển cho L số tiền 30.000.000 đồng để làm lễ là hoàn toàn tự nguyện, lý do chị chuyển tiền là do chị tin tưởng bị cáo L sẽ nhờ người thầy của L cúng lễ giải hạn cho gia đình chị chứ không phải chị nhờ bị cáo cúng lễ. Sau đó chị mới biết L đã lừa dối chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn L về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan. Bị hại kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo, cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo không đúng là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Phạm Thị Anh T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của của bị hại Phạm Thị Anh T đảm bảo về hình thức, trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do bản thân không có việc làm, lại nợ nần nhiều, lợi dụng sự tin tưởng của chị Phạm Thị Anh T, bị cáo L đã 04 lần đưa ra thông tin gian dối sai sự thật như khoe bản thân làm nghề thiết kế, xây dựng, làm nhiều công trình, dự án lớn ở nhiều nơi, có mức thu nhập cao, có các tài sản có giá trị, để tạo lòng tin với chị T, lấy đó làm lí do vay tiền rồi chiếm đoạt số tiền đã nhận của chị T. Cụ thể, ngày 10/02/2022, L chiếm đoạt của chị T 12.000.000 đồng; ngày 21/3/2022, L chiếm đoạt của chị T 30.000.000 đồng; ngày 26/8/2022, L chiếm đoạt của chị T 120.000.000 đồng; ngày 29/10/2022, L chiếm đoạt của chị T 25.000.000. Tổng số tiền bị cáo L đã chiếm đoạt của chị T là 187.000.000 đồng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xét xử bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét yêu cầu kháng cáo của chị T về việc Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải không đúng, HĐXX xét thấy, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, cụ thể là thừa nhận toàn bộ 4 lần thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của chị L như cáo trạng đã quy kết. Bị cáo đã trả lại cho chị T số tiền 11.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Duy L1 nhất trí bồi thường thay cho bị cáo số tiền 50.000.000 đồng và 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp vào tài khoản tại chi cục thi hành án dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên HĐXX không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo này của chị T.

[4]. Chị T yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xem xét bị cáo L có dấu hiệu lừa đảo đối với số tiền 30.000.000 đồng mà chị chuyển cho bị cáo L để làm lễ cầu cúng giải hạn cho con gái của chị; các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không xem xét buộc bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền này là bỏ lọt hành vi phạm tội. HĐXX nhận thấy, trước khi chị T chuyển số tiền 30.000.000 đồng để nhờ bị cáo làm lễ, giữa chị T và bị cáo thường nói chuyện, chia sẻ với nhau về các vấn đề tử vi, tâm linh liên quan đến cuộc sống, gia đình, công việc, con cái của chị T. Chị T cũng thừa nhận “...nhiều lần L “soi” được một số chuyện, vận hạn của bản thân, gia đình và đã đúng xảy ra thật nên tôi nghĩ và tin tưởng L có khả năng về tâm linh nên nhờ L làm lễ bái, giải hạn……”; “...tuy nhiên L cũng không có vi deo, hình ảnh gì xác nhận đã thực hiện nên tôi không biết L có làm thật hay không, chỉ có các lần làm xong L có gửi một lá bùa, một bức thư dặn dò, có lần đốt, có lần để dưới gối, chân giường...”; “...đối với việc cúng lễ và chuyển tiền cho L để cúng lễ cho con, bản thân tôi xác định là tự nguyện nên không có yêu cầu gì với cơ quan điều tra...” (Bút lục 104; 108). Việc chuyển tiền nhờ bị cáo làm lễ là chị tự nguyện, không bị xúi giục hay cưỡng ép, số tiền này vừa là tiền nhờ L làm lễ vừa là cảm ơn L. Bị cáo L khẳng định bản thân bị cáo có kiến thức về tử vi, kinh dịch thông qua việc đọc sách, tìm hiểu trên mạng. Bị cáo không hứa hẹn hay mời gọi để lừa chị T làm lễ, giữa bị cáo và chị T không có cam kết hay thỏa thuận việc bị cáo L khi làm lễ phải quay phim, chụp ảnh lại quá trình làm lễ cho chị T để làm căn cứ. Bị cáo khẳng định khi chị T chuyển tiền, bị cáo có mua sắm đồ đạc và làm lễ giải hạn cho chị T và gia đình. Khi làm lễ xong bị cáo còn gửi lá bùa, thư dặn dò chị T về việc sử dụng lá bùa. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng là ông L1 người ở cùng nhà với bị cáo xác nhận có việc bị cáo L tổ chức việc cúng lễ. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T cũng thừa nhận bị cáo L có gửi 2 hoặc 3 lá bùa cho chị và dặn dò việc sử dụng và vị trí cất giữ các lá bùa. Do vậy không đủ căn cứ xác định bị cáo L đưa ra thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt số tiền 30.000.000 đồng mà chị T chuyển tiền để nhờ bị cáo làm lễ giải hạn. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không xem xét, xử lý hình sự đối với bị cáo L mà xác định đây là số tiền chị T tự nguyện chuyển cho bị cáo để làm lễ và cảm ơn bị cáo là có căn cứ nên HĐXX không có cơ sở chấp nhận nội dung kháng cáo này của chị T.

[5]. Về việc chị T yêu cầu bị cáo L phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị cụ thể (tiền vé máy bay đi các lần đi lại từ Đà Nẵng ra Hưng Yên, đề nghị bị cáo phải trả tiền thiệt hại số tiền chị phải đi vay lãi để cho bị cáo vay lại và các thiệt hại khác). HĐXX nhận thấy, tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, chị T không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho các thiệt hại nay nên Tòa án cấp sơ thẩm không có căn cứ xem xét giải quyết và dành quyền khởi kiện cho chị T ở vụ án khác là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Người bị hại cho rằng tổng số tiền bị chiếm đoạt là 217.000.000 đồng. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chỉ có căn cứ chứng minh và xác định bị cáo L chiếm đoạt của chị T số tiền 187.000.000 đồng. Đối với số tiền 30.000.000 đồng không được chấp nhận là do không có căn cứ chứng minh bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của chị T, không phải là khoản yêu cầu bồi thường không phù hợp với quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 30.00.000 đồng là không đúng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. HĐXX phúc thẩm sẽ sửa nội dung này tại bản án hình sự sơ thẩm và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 05/2024/TB – TA ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên để bảo đảm quyền lợi cho chị T.

[4]. Án phí hình sự phúc thẩm: Chị T kháng cáo không được chấp nhận nhưng do cấp phúc thẩm sửa phần án phí dân sự nên chị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Phạm Thị Anh T, sửa bản án hình sự sơ thẩm 66/2024/HSST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
  2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 16/5/2024.

    Về trách nhiệm dân sự:

    Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường cho chị Phạm Thị Anh T, sinh năm sinh năm 1990; HKTT: xóm G, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở hiện nay: Số B N, phường M, thành phố Đà Nẵng số tiền là 176.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu đồng). Bị cáo L được đối trừ số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) do ông Nguyễn Duy L1 là bố đẻ của bị cáo đã nộp thay theo biên lai thu tiền số 0000405 ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên để bồi thường cho chị T. Bị cáo L còn phải bồi thường tiếp cho chị Phạm Thị Anh T số tiền còn lại là 126.000.000 (Một trăm hai mươi sáu triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người bị hại, nếu bị cáo không thanh toán trả số tiền trên cho người bị hại thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Anh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Chị Phạm Thị Anh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Thực

Nguyễn Trung Kiên

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HS-PT ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 58/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NVL
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger