|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2024 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Chiên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm, bà Bùi Thị Hảo
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P - sinh năm 1994
Địa chỉ: Khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Hiện chị P đang lao động tại Nhật Bản)
Bị đơn: Anh Lê Khắc C - sinh năm 1997
Địa chỉ: Khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phan Thị K - sinh năm 1971
Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ
(Các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Khắc C đăng ký kết hôn ngày 06/4/2012 tại UBND xã T (nay là xã H), huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi kết hôn hai bên tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong việc chăm sóc con, chi tiêu trong gia đình, mâu thuẫn vợ chồng có được gia đình khuyên giải nhưng đời sống chung vợ chồng không cải thiện được, do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ của chị ở khu A, xã D, huyện T để ở. Đến tháng 6/2019 thì chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, thời gian này hai bên không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Khắc C
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Anh P1 - sinh ngày 13/11/2012 và Lê Thị Yến N - sinh ngày 31/07/2015. Hiện nay hai con chung đang ở với bố mẹ đẻ của chị là bà Phan Thị K và học tập ổn định ở xã D, huyện T. Khi ly hôn chị nhận nuôi hai con, trong thời gian chị đi xuất khẩu lao động thì để mẹ đẻ chị là bà K chăm sóc, giáo dục hai con. sau khi chị về nước thì chị trực tiếp chăm sóc. Chị không đề nghị anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị và anh K1 không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc của chị nên không thể tham gia tố tụng tại phiên tòa được, chị đề nghị xét xử vắng mặt chị.
Bị đơn anh Lê Khắc C đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Tòa án tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh C, nội dung xác minh thể hiện như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Khắc C và chị Nguyễn Thị P đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã T (nay là xã H) huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi kết hôn được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn thì vợ chồng anh C chị P đi làm xa nhà, sau khi chị P sinh con đã về nhà bố mẹ đẻ của chị P ở xã D, huyện T để ở. Vợ chồng anh C chị P chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không như những người con trai khác về mặt kinh tế nên không lo cho vợ con và mẹ đẻ. Dư luận cho rằng anh C hay mua số lô, đề và thường bị thua. Khoảng năm 2019, chị P đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài. Từ ngày chị P đi xuất khẩu lao động đến nay, không liên lạc về gia đình anh C, còn anh C đang làm công nhân trong Đồng Nai nhưng không biết địa chỉ cụ thể. Nguyên nhân chị P anh C mâu thuẫn thì không ai biết. Gia đình anh C đã liên lạc với chị P nhưng không liên lạc được nên đã trao đổi với bố mẹ đẻ của chị P về việc khuyên giải để chị P về đoàn tụ, gia đình chị P nói lại là việc chị P và anh C có đoàn tụ hay không là việc của anh C và chị P quyết định.
Về con chung: Vợ chồng chị P anh C có hai con chung là Lê Anh P1 và Lê Thị Yến N, hiện nay đang ở cùng với bố mẹ đẻ của chị P ở xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Cháu P1 hiện học lớp 6C Trường trung học cơ sở D, huyện T; cháu N học lớp 3B Trường tiểu học T, huyện T. Quá trình học tập thì tâm sinh lý của cháu P1 và cháu N đều ổn định, không có biểu hiện bất thường. Bố mẹ đẻ của chị P là người đưa đón cháu P1 và cháu N đi học.
2
Về tài sản chung: Chị P và anh C không có
Về vay nợ và công sức đóng góp: Chị P và anh C có hay không thì không nắm được.
Bố mẹ của anh C sinh được anh C và anh K2. Bố của anh C hiện đã chết, anh K2 hiện đang đi chấp hành án phạt tù, còn mẹ đẻ của anh C là bà L hiện nay tuổi đã cao nhưng kinh tế rất khó khăn nên phải đi làm xa nhà để có thu nhập. Nhà của bà L hiện nay thường xuyên khóa cửa, không có ai ở. Do tính chất công việc của bà L nên thời gian về nhà như thế nào thì không ai nắm được.
Khi Tòa án và đại diện khu dân cư đến nhà anh C để làm việc thì thấy cửa nhà khóa, đã gọi điện cho bà L là mẹ đẻ của anh C thì bà L nói là bà có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án để tống đạt cho anh C. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án đã gọi điện cho anh C biết thời gian đến Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết việc chị P xin ly hôn, anh C nói là sẽ về giải quyết nhưng không nói cụ thể là khi nào về, chị P xin ly hôn và nhận nuôi con thì anh C nhất trí và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bà Phan Thị K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị P. Chị Nguyễn Thị P và anh Lê Khắc C đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã T (nay là xã H), huyện T. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh C chị P chung sống cùng với gia đình anh C ở huyện T. Vợ chồng anh C chị P sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên hiện nay đang sống ly thân. Vợ chồng anh C chị P có hai con chung là Lê Anh P1 và Lê Thị Yến N, tháng 6/2019 chị P đi xuất khẩu lao động nên cháu P1 và cháu N ở với bà, hằng ngày bà là người đưa, đón hai cháu đi học. Khi chị P và anh C ly hôn, bà đề nghị Tòa án giao cháu P1 và cháu N cho chị P nuôi dưỡng vì hai cháu đang ở và học tập ổn định, trong thời gian chị P ở nước ngoài thì bà nuôi cháu P1 và cháu N. Bà không yêu cầu chị P, anh C phải trả cho bà tiền chi phí nuôi dưỡng cháu P1 và cháu N. Do tính chất công việc và sức khỏe nên bà không thể tham gia tố tụng tại phiên tòa được, đề nghị xét xử vắng mặt bà.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, còn bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật.
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Lê Khắc C.
Về con chung: Giao hai con chung là Lê Anh P1 - sinh ngày 13/11/2012 và Lê Thị Yến N - sinh ngày 31/7/2015 cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong thời gian chị Nguyễn Thị P ở nước ngoài, tạm giao cháu Lê Anh P1 và Lê Thị Yến N cho bà Phan Thị K chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi chị Nguyễn Thị P về nước. Anh Lê Khắc C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Thị P không yêu cầu.
Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: Các đương sự không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Khắc C, đơn khởi kiện và các giấy tờ của chị P được xác nhận của Đ tại Nhật Bản. Chị P và anh C đều đăng ký hộ khẩu tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Lê Khắc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc và vắng mặt phiên tòa lần hai. Chị Nguyễn Thị P và bà Phan Thị K đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 208, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị P, anh Lê Khắc C và bà Phan Thị K.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Lê Khắc C đăng ký kết hôn ngày 06/4/2012 tại UBND xã T (nay là xã H), huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi kết hôn hai bên tự nguyện, không bị ép buộc nên quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh C là hợp pháp. Chị P và anh C sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị P đã về nhà bố mẹ đẻ ở khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ để ở, hiện nay chị P và anh C đang sống ly thân, hai bên không quan tâm đến nhau. Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh C, nội dung xác minh phù hợp với nội dung trình bày của chị P. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh C là mâu thuẫn rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P xin ly hôn anh C là có căn cứ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P nên xử cho chị P được ly hôn anh C.
4
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị P và anh Lê Khắc C có 02 con chung là Lê Anh P1 - sinh ngày 13/11/2012 và Lê Thị Yến N - sinh ngày 31/7/2015. Hiện nay cháu P1 và cháu N đang ở với mẹ đẻ chị P là bà Phan Thị K ở khu A, xã D, huyện T. Khi ly hôn chị P nhận nuôi hai con chung, còn anh C không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm về nuôi con. Nguyện vọng của cháu P1 và cháu N là được ở với mẹ và bà ngoại, còn bà K cũng đề nghị được nuôi cháu P1 và cháu N trong thời gian chị P ở nước ngoài. Để ổn định chỗ ở và học tập của cháu P1 và cháu N nên giao cháu P1 và cháu N cho chị P chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong thời gian chị P ở nước ngoài, tạm giao cháu P1 và cháu N cho bà K nuôi dưỡng đến khi chị P về nước.
[4] Cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy chị P không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà K không đề nghị chị P thanh toán tiền chi phí nuôi cháu P1 và cháu N. Vì vậy, không giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị P xác định không có tài sản chung, không nợ ai và không có công sức đóng góp, còn anh C không đến Tòa án làm việc nên không làm rõ được quan điểm của anh C về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp. Vì vậy, không giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn: Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Nguyễn Thị P phải chịu toàn bộ án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P về việc xin ly hôn anh Lê Khắc C. Xử cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Lê Khắc C.
3. Về con chung: Giao hai con chung là Lê Anh P1 - sinh ngày 13/11/2012 và Lê Thị Yến N - sinh ngày 31/7/2015 cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trong thời gian chị Nguyễn Thị P ở nước ngoài, tạm giao cháu Lê Anh P1 và Lê Thị Yến N cho bà Phan Thị K chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi chị Nguyễn Thị P về nước. Anh Lê Khắc C không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Nguyễn Thị P không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Không giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000260 ngày 27/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khắc Chiên |
6
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Lê Khắc C
