|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số:58/2024/HNGĐ-ST Ngày 28/11/2024 V/v xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Việt Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ
Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thu Trang – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tạ Ngọc Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 607/2024/TLST-HNG ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1990
Nơi đăng ký HKTT: thôn T, xã M, huyện S, TP. Hà Nội.
Nơi tạm trú: xã V, huyện M, thành phố Hà Nội
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1986
Nơi đăng ký HKTT: thôn T, xã M, huyện S, TP . Hà Nội.
(Có mặt chị H, vắng mặt anh H1.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 14/10/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Lê Thị Thu H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh H1 lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 16/6/2017 tại UBND xã M, huyện S, TP . Hà Nội. Sau khi lấy nhau chị về làm dâu gia đình anh H1 ngay, vợ chồng sống cùng mẹ anh H1. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoản ba năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H1 chơi bời cờ bạc thua tha dẫn đến nợ nần phải bán nhà đất, vợ chồng phải đi thuê nhà, và đi ở nhờ. Đầu năm 2024 thì vợ chồng đi thuê cửa hàng để kinh doanh và để ở; nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn xảy ra. Ngày 01/9/2024 trong khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn anh H1 đã đuổi chị ra khỏi nhà, chị đã ôm con nhỏ 21 tháng tuổi về nhà ngoại ở. Chị nhiều lần về thăm con nhưng anh H1 vẫn đuổi chị. Ngày 13/10/2024 anh H1 cùng bạn anh H1 đến nhà bố, mẹ chị đánh chị trước sự chứng kiến của ông bà ngoại và đe dọa giết chị, tuyên bố nếu gặp chị ở đâu là anh H1 sẽ đánh chị. Đến nay chị xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng hoàn toàn mất niềm tin nơi nhau, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung: Cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 27/02/2018; Cháu Nguyễn Tùng C, sinh ngày 21/01/2021; Cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 31/01/2023. Hiện tình trạng sức khỏe các con chị bình thường. Ly hôn đặt ra về con chị có nguyện vọng được nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Tùng C, sinh ngày 21/01/2021; Cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 31/01/2023; Vì cả hai cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Anh H1 nuôi cháu lớn Nguyễn Phúc L, sinh ngày 27/02/2018; Việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chị tự đảm nhiệm không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng.
- Về tài sản chung(riêng), nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, vay nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
* Đối với bị đơn là anh Nguyễn Thanh H1 vắng mặt nhưng có lời khai:
- Về tình cảm: Anh và chị Lê Thi Thu H2 lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 16/6/2017 tại UBND xã M, huyện S, TP . Hà Nội. Sau khi lấy nhau chị H2 về làm dâu gia đình anh ngay, vợ chồng sống cùng mẹ anh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh đi làm xây dựng thường xuyên phải về muộn, chị H2 không thông cảm mà còn gây sự vô cớ dẫn đến vợ chồng cãi nhau. Chị H2 không chăm lo cho gia đình mà thường xuyên chơi lô đề, đánh bạc trên mạng dẫn đến tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ ngày 01/9/2024 chị H2 tự ý bỏ về nhà ngoại ở. Anh có đến đón nhưng chị H2 không về. Anh vẫn mong muốn chị H2 suy nghĩ lại rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con. Nếu chị H2 vẫn giữ quan điểm xin ly hôn với anh thì anh đồng ý.
- Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 03 con chung, cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 27/02/2018; cháu Nguyễn Tùng C, sinh ngày 12/01/2021 và cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 31/01/2023. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi và chăm sóc cả ba con. Hiện nay anh đang kinh doanh tự do, thu nhập trung bình 30.000.000đ/tháng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh xin tự đảm nhiệm việc nuôi con, không yêu cầu chị H2 cấp dưỡng.
- Về tài sản, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, vay nợ, công sức: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự, thủ tục tố tụng.
Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H2. Cho chị H2 được ly hôn với anh H1;
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Tùng C, sinh ngày 12/01/2021 và Nguyễn Minh N, sinh ngày 31/01/2023 cho chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung là Nguyễn Phúc L, sinh ngày 27/02/2018 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tự mỗi bên đảm nhiệm việc nuôi con.
- Về tài sản chung; vay nợ, công sức: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị H2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình tranh chấp tranh chấp về việc ly hôn. Bị đơn là anh Nguyễn Thanh H1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn S, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Do vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Anh H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H1.
[2] Về nội dung: Chị Lê Thị Thu H và anh Nguyễn Thanh H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện S, thành phố Hà Nội ngày 16/6/2017. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng chị H, anh H1 chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, đổ lỗi cho nhau, dẫn tới cãi nhau, đánh nhau. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không được. Chị H, anh H1 đều xác định không còn tình cảm vợ chồng. Chị H xin ly hôn, anh H1 đồng ý ly hôn chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị H và anh H1 có 03 con chung là cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 27/02/2018; Cháu Nguyễn Tùng C, sinh ngày 12/01/2021 và Cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 31/01/2023. Ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi hai con nhỏ, anh H1 có nguyện vọng nuôi cả ba con.
Xét yêu cầu của các bên Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên là trách nhiệm của cả bố và mẹ. Hiện các cháu còn nhỏ cần có sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ(cháu N dưới 36 tháng tuổi). Anh H1 và chị H đều có nguyện vọng nuôi con chung; để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về thể chất và tinh thần cho các cháu. Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu C1 Nguyễn Tùng C, sinh ngày 12/01/2021 và Cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 31/01/2023 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 27/02/2018 giao cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H, anh H1 xin tự đảm nhiệm việc nuôi con, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung(riêng), nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, vay nợ: Chị H, anh H1 đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 28, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thu H. Cho chị Lê Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H1.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 27/02/2018 cho anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao con chung là cháu Nguyễn Tùng C, sinh ngày 12/01/2021 và cháu Nguyễn Minh N, sinh ngày 31/01/2023 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H, anh H1 tự đảm nhiệm việc nuôi con.
- Chị H, anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung(riêng), nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, vay nợ: Hai bên không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Chị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn theo biên lai số 0072685 ngày 14/10/2024.
6. Quyền kháng cáo: Chị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Lê Việt Hùng |
Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
