Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 - 6 -2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu;

Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 67/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1981.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Hiện anh T đang lao động tại Đài Loan.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị N trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 02 tháng 4 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Năm 2009, vì kinh tế gia đình khó khăn nên chị đi lao động tại Đài Loan. Trong khoảng thời gian chị ở nước ngoài, chị và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng mỗi người sống một nơi, tình cảm vợ chồng dần rạn nứt và anh T có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Đến năm 2014, anh T cũng đi lao động tại Đài Loan. Thời điểm này mâu thuẫn giữa chị và anh T trở nên trầm trọng, vợ chồng không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

+Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Trần Tuấn H sinh ngày 19/8/2008. Do anh T đang ở nước ngoài nên chị N đề nghị Toà án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

+Về tài sản và nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Trần Văn T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Toà án tiến hành thu thập lời khai của ông Trần Xuân T1; Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình (là bố đẻ của anh T), ông T1 trình bày: Chị N và anh T kết hôn vào ngày 02 tháng 4 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vì kinh tế gia đình khó khăn nên anh T đi lao động tại Đài Loan. Trong khoảng thời gian anh T đi nước ngoài, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, gia đình hai bên nhiều lần hoà giải nhưng không thể hàn gắn. Ông T1 đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Toà án và đã thông báo cho anh T, anh T biết việc Toà án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị N và anh T nhưng do công việc bận mải nên anh T không về làm việc được và có nhờ ông T1 thông báo với Toà án về việc anh T đồng ý ly hôn chị N. Về con chung, chị N và anh T có 01 con chung là cháu Trần Tuấn H, sinh ngày 19/8/2008. Hiện nay con chung đang do ông T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông T1 trình bày chị N và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

2

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Hiện tại anh Trần Văn T đang lao động ở Đài Loan nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

[1.2] Tòa án đã tống đạt/niêm yết hợp lệ văn bản tố tụng cho anh Trần Văn T nhưng anh T không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến; chị N có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh T là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quan hệ hôn nhân của chị N và anh T không hạnh phúc được chứng minh qua lời khai của chị N và lời khai của ông T1 (bố đẻ của anh T). Việc chị N và anh T không liên lạc và không quan tâm đến nhau trong khoảng thời gian dài thể hiện anh chị đã có mâu thuẫn trầm trọng. Khi chị N xin ly hôn, anh T biết nhưng không muốn hàn gắn mà nhờ gia đình tác động để đồng ý ly hôn chứng minh cả hai anh chị không muốn duy trì hôn nhân nữa. Như vậy khẳng định mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị N được ly hôn với anh T là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Chị N và anh T có 01 con chung là Trần Tuấn H sinh ngày 19/8/2008. Xét thấy chị N có nguyện vọng được nuôi con chung, anh T ở nước ngoài không thể nuôi con chung, ông T1 – bố đẻ của anh T đang nuôi dưỡng cháu H cùng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật nên cần giao con chung cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Toà án không đặt ra giải quyết.

3

[2.3] Về chia tài sản: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung; anh T vắng mặt, không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không giải quyết về quan hệ tài sản trong vụ án này.

[2.4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Chị N và anh T có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trần Văn T.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Tuấn H sinh ngày 19/8/2008. Anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị N nộp tại biên lai số 0000124 ngày 15/3/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Anh Trần Văn Tỉnh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

4

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Vũ Vân, huyện Vũ Thư;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Hằng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger