Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/8/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và ông Trần Văn Bình

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường V - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 229/2024/TLVA-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Công T, sinh năm 1969 (có mặt).

Bị đơn: Bà Phan Thị Trường G, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: Khu phố A, phường Đ, TP P - T, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Công T trình bày:

Ông T và bà Phan Thị Trường G chung sống với nhau vào năm 2003, vợ chồng sống ở nhà riêng tại khu phố A, phường Đ, TP P - T, Ninh Thuận; Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, TP . - T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 16/01/2017. Quá trình chung sống vợ chồng sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hoà hợp, thường xuyên cãi vã. Ông T và bà G đã không còn sống chung từ tháng 6/2022 đến nay. Bà G và con chung Trần Thùy Huỳnh A đã về An Giang sống với gia đình ngoại.

Nay, ông T đã hết tình cảm với bà G nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà G.

Về con chung: Vợ chồng ông có hai con chung: Trần Công A1, sinh ngày 01/02/2006 và Trần Thùy Huỳnh A, sinh ngày 04/11/2018. Ông Thông đồng ý giao cháu A cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng và ông không thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con do bà G không yêu cầu. Cháu Trần Công A1 đã trên tuổi 18 tuổi, lao động tự túc được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn bà Phan Thị Trường G: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà G nhưng bà G vẫn vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Trần Công T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn bà Phan Thị Trường G. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đăng ký cư trú ở phường Đ, TP . - T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Ông Trần Công T và bà Phan Thị Trường G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 16/01/2017, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

[2.2] Về quan hệ hôn nhân, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, quá trình chung sống ông T, bà G phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung, bà G đã về nhà mẹ ruột ở từ tháng 7/2022 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Tình trạng mâu thuẫn giữa ông T và bà G được Ủy ban nhân dân phường Đ xác nhận ngày 17/5/2024. Bà G biết việc ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện bà G không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xét thấy hôn nhân giữa ông T và bà G đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

[2.3] Về con chung: Ông T và bà G có 02 con chung: Trần Công A1 sinh ngày 01/02/2006 và Trần Thùy Huỳnh A, sinh ngày 04/11/2018. Trần Công A1 đã trên tuổi 18 tuổi, lao động tự túc được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu A, Hội đồng xét xử xét thấy cháu A đang sống cùng với bà G tại quê ngoại từ tháng 7/2022 đến nay, ông T cũng đồng ý giao cháu A cho bà G trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử giao cháu A cho bà G nuôi dưỡng là phù hợp. Ông T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà G không yêu cầu.

[2.4] Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Trần Công T được ly hôn với bà Phan Thị Trường G.
  2. Về con chung: Giao cho bà Phan Thị Trường G được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Trần Thùy Huỳnh A, sinh ngày 04/11/2018. Ông T không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà G không có yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: Ông Trần Công T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) ông T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002574 ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Trần Công T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - UBND P. Đông Hải, TP. PR-TC
  • (GKH số 01 ngày 16/01/2017);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 58/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Công T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn bà Phan Thị Trường G
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger