Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2024/DS-ST

Ngày: 31-8-2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử

dụng đất và yêu cầu huỷ quyết

định cá biệt”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Sang,
  2. Ông Trần Thanh Liên.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Đạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa ông Lương Quốc Phòng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 51/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-DS Quảng Nam, ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Đoàn Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ E, Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Phạm Thị D, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam (Văn bản uỷ quyền ngày 26/10/2022). Có mặt.

Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Đào Duy K và Luật sư Nguyễn Thanh C - Văn phòng Luật sư Đào Duy K, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Có mặt.

- Bị đơn: bà Lê Thị Thúy V, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ E, Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Mai Duy N, sinh năm 1981. Vắng mặt.
  2. Ông Phạm D1, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ E, Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

  1. Ông Phạm A, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
  2. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1989. Vắng mặt.
  3. Ông Phạm Duy P, sinh năm 1993. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum.

  1. Bà Phạm Thị D, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  2. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Địa chỉ: Số H H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện theo pháp luật: ông Trầm Quế H1 - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Võ Vi N1 - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

  1. Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Anh M - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn, người bảo vệ lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Năm 1983, vợ chồng nguyên đơn khai hoang mảnh đất với diện tích 3.600m² để xây dựng nhà ở, làm vườn và trồng khoai tại Tổ E, Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Đến năm 1985, vợ chồng nguyên đơn có đơn xin phép làm nhà ở diện tích đất 250m² trên mảnh đất 3.000 m² và được Đội 2, Hợp tác xã và Uỷ ban nhân dân (Viết tắt là UBND) xã T chứng thực vào ngày 07/5/1985. Năm 1997, được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 2.445m² trong tổng số diện tích đất 3.000 m² tại thửa đất số 82, tờ bản đồ số 12. Phần diện tích đất còn lại khoảng 1.200 m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắc là GCNQSDĐ), tuy nhiên từ năm 1983 đến nay gia đình nguyên đơn sử dụng ổn định, liên tục, phù hợp với quy hoạch và có ranh giới rõ ràng nhưng không biết lý do gì mà hộ bà Lê Thị Thúy V chẳng hề sử dụng ngày nào mà được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số BH 548521 tại thửa đất số 639, tờ bản đồ 12, với diện tích 223m² Theo hồ sơ đo đạc phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thì có diện tích 348,4m². Toàn bộ diện tích đất nói trên là của vợ chồng nguyên đơn khai hoang và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc hộ bà Lê Thị Thúy V trả lại diện tích đất (đo đạc thực tế ngày 10/4/2024 ) là 187,5m² bà V được cấp GCNQSDĐ là 223m², đồng thời huỷ một phần GCNQSDĐ đã cấp cho hộ bà Lê Thị Thúy V đối với 187,5m².

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn bà Lê Thị Thúy V trình bày: Nguồn gốc diện tích đất mà nguyên đơn khởi kiện là của ông Mai T1 (cha ông Mai Duy T2 chồng bà Lê Thị Thúy V). Khoảng những năm 1983, 1984 thì ông Phạm Hồng V1 (gọi ông Mai Duy T2 là C1 ruột) có đến xin ông T2 diện tích đất để làm nhà và trồng sắn thì ông T2 có cho ông V1 mượn nhưng không làm văn bản gì, ông T2 chỉ có yêu cầu ông V1 không được làm thủ tục để cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất đã mượn. Sau khi ông T2 cho mượn thì ông V1 có làm nhà để ở (hiện nay vẫn tồn tại ngôi nhà cũ của vợ chồng ông V1 trên 1 diện tích đất 1 đất cho mượn) và trồng sắn trên phần diện tích đất hiện nay đang tranh chấp 187,5m². Trên phần diện tích đất tranh chấp 187,5 m² này thì gia đình ông Phạm Hồng V1 canh tác, sử dụng từ khi mượn cho đến năm 1999 thì ông T2 có đòi lại và gửi đơn đến UBND xã T, UBND xã T có xuống làm việc và cho rằng 02 bên cũng chưa được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất tranh chấp này nên đã thu hồi diện tích đất 199m² (diện tích đất tranh chấp 187,5m² này nằm trong diện tích đất thu hồi 199m²) và không giao cho ai quản lý, sử dụng. Đến năm 2011 tôi có làm đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ trong đó có phần diện tích đất tranh chấp và được Nhà nước cấp GCNQSDĐ tại thửa đất số 639, tờ bản đồ 12, với diện tích 223m² theo GCNQSDĐ số BH 548521. Nay, nguyên đơn khởi kiện thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Phạm D1, ông Phạm A, bà Phạm Thị H, ông Phạm Duy P, bà Phạm Thị D có bản tự khai thống nhất nội dung khởi kiện của bà Đoàn Thị Tuyết .

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Duy N trình bày: thống nhất nội dung trình bày của bà Lê Thị Thúy V.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Anh M - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Nguồn gốc, quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp 162m²: Diện tích đất này nằm trong diện tích đất 223m² hộ bà Lê Thị Thúy V được cấp GCNQSDĐ số 639, tờ bản đồ 12. Diện tích đất này trước đây là của cha mẹ ông Mai Duy T2 (chồng bà Lê Thị Thúy V) để lại. Trong quá trình sử dụng thì vợ chồng bà Lê Thị Thúy V có cho vợ chồng ông Phạm Hồng V1, bà Đoàn Thị Tuyết m để canh tác hay không thì địa phương không rõ.

Ngày 17/7/1999, UBND xã T có ban hành Thông báo số 17/TB- UB về việc thu hồi đất với diện tích 199m² của ông Phạm Hồng V1. Tuy nhiên, do thời gian quá lâu nên địa phương không rõ diện tích đất bị thu hồi này có nằm tại vị trí các đương sự đang tranh chấp hay không. Diện tích đất này đến trước thời điểm năm 2012 do UBND xã quản lý thuộc thửa đất số 81, 81/1, tờ bản đồ số 12, không có ai kê khai, đăng ký trong sổ địa chính.

Đến năm 2012, bà Lê Thị Thúy V có nhu cầu đề nghị cấp GCNQSDĐ bổ sung do trước đây bà chưa kê khai đối với phần diện tích đất này. Sau khi kiểm tra hồ sơ thì UBND xã xét thấy nguồn gốc đất bà Lê Thị Thúy V sử dụng là hợp pháp, đồng thời trước khi cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất 223m² thì không có cá nhân nào tranh chấp với bà Lê Thị Thúy V. Do đó, UBND xã T lập thủ tục đề nghị UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số BH 548521 đối với thửa đất số 639, tờ bản đồ 12, diện tích 223m² cho hộ bà Lê Thị Thúy V. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T có văn bản nêu ý kiến:

Căn cứ các quy định của pháp luật và hồ sơ, tài liệu có liên quan, UBND huyện T có ý kiến đối với vụ án này, cụ thể như sau:

Theo hồ sơ lưu trữ tại huyện T thể hiện: Ngày 02/6/2011, hộ bà Lê Thị Thúy V có đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gửi UBND huyện T được UBND xã T ký xác nhận ngày 02/6/2011. Căn cứ Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ, các quy định của pháp luật, hồ sơ, tài liệu có liên quan và đề nghị của các cơ quan chuyên môn thuộc huyện; ngày 06/6/2012, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ bả Lê Thị Thủy V2 tại thửa đất số 639, tờ bản đồ số 12, diện tích: 223m², loại đất: đất trồng cây lâu năm, theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 32, khoản 3 Điều 49, khoản 3 Điều 50 Luật Đất đai 2003; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với 187,5m² đất là của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu huỷ quyết định cá biệt của bị đơn huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 548521 Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho hộ bà Lê Thị Thúy V vào ngày 06/6/2012.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Đoàn Thị T khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Thúy V trả lại 187,5m² đất tại thửa 639, tờ bản đồ 12 địa chỉ tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Bà T yêu cầu Toà án tuyên huỷ GCNQSDĐ ký hiệu BH 548521 Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam đã cấp cho bà Lê Thị Thúy V vào ngày 06/6/2012. Do đó, quan hệ pháp luật giải quyết là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 4, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, đã có lời khai của họ trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về diện tích đất và tài sản trên đất tranh chấp:

Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/11/2022 (trích đo ngày 24/4/2023); biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/4/2024 (trích đo ngày 05/6/2024) thì diện tích đất các bên thống nhất tranh chấp 187,5m². Trên đất tranh chấp có tài sản gồm:

- Mít có quả đường kính nhỏ hơn 30cm: 01 cây x 800.000 đồng = 800.000 đồng.

- Mận chưa có quả, đường kính lớn hơn 5cm: 01 cây x 400.000 đồng = 400.000 đồng.

- Dâu đất có quả: 01 cây x 800.000 đồng = 800.000 đồng.

- Chuối chưa có quả, cao hơn 0,8m: 15 cây x 30.000 đồng = 450.000 đồng.

- Chuối có quả, chưa thu hoạch: 5 cây x 70.000 đồng = 350.000 đồng.

- Cau chưa có quả cao trên 1m: 01 cây x 100.000 đồng = 100.000 đồng.

- Thầu dầu có đường kính từ 01 đến 5 cm: 02 cây x 20.000 đồng = 40.000 đồng.

- Nứa (tre măng) bụi nhỏ: 02 bụi x 46.000 đồng = 46.000 đồng.

Ngoài ra, tại phiên toà bà V thừa nhận, trên phần diện tích đất tranh chấp khi Nhà nước kiểm kê đền bù làm đường 40B đã giải toả 08 cây sưa, một số cây chuối và hàng rào dâm bụt của gia đình bà T, ngoài ra số cây cối còn lại hiện nay đều tự mọc, không ai trồng, bà V cũng không có tài sản nào trên phần đất tranh chấp này.

[2.2] Xét yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ quyết định cá biệt của bà Đoàn Thị T thì thấy:

Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Bị đơn Lê Thị Thúy V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Mai Duy N (con bà V) cho rằng nguồn gốc đất của ông Mai T1 (Cha chồng bà V) để lại cho ông Mai Duy T2, 1983 ông T2 cho ông Phạm Hồng V1 bà Đoàn Thị Tuyết V3 mượn đất và sử dụng từ đó đến nay, bị đơn không có tài sản trên đất, nhưng không đưa ra chứng cứ về việc cho mượn đất. Bà V không sử dụng đất nhưng được cấp GCNQSDĐ vào năm 2012, sau đó vẫn không sử dụng, năm 2021 Nhà nước thực hiện việc giải toả đền bù dự án mở rộng đường Quốc lộ 40B mới xay ra tranh chấp.

Những người làm chứng: ông Lê T3, ông Mai Kim T4, bà Đỗ Thị C2, Phan Bá N2, là những người sống lâu năm tại Thôn B, xã T, huyện T (nơi có đất tranh chấp) đều xác nhận, trong quá trình sinh sống đã chứng kiến vào những năm 1983 - 1984 thấy ông Phạm Hồng V1 khai hoang, sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất hiện nay đang tranh chấp với bà V, số cây lâu năm như mít, dâu đất hiện có trên đất do ông V1 chồng bà T trồng, không thấy gia đình bà V sử dụng đối với diện tích đất này, đồng thời cũng không thấy các bên tranh chấp cho đến khi làm đường 40B. Điều đó cho thấy tại thời điểm từ năm 1983 đến 2012 bà Đoàn Thị T là người sử dụng đất theo khoản 3 Điều 48 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 24/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai 2003, hiện nay bà T đang sử dụng ổn định theo Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013.

Về thủ tục kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Tại trang 193 sổ Mục kê UBND xã T lập năm 1996 thể hiện thửa 81 diện tích 589m² tờ bản đồ 12 chưa sử dụng và thửa 81/1 diện tích 500m² tờ bản đồ 12 Uỷ ban xã quản lý. Tuy nhiên Giấy xác nhận nguồn gốc đất đang sử dụng cho bà Lê Thị Thúy V lập ngày 02/6/2011 do U xác nhận và Tờ trình về việc cấp GCNQSDĐ số 374/TTr-TNMT ngày 29/5/2012 do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T lập, xác nhận thửa 639 tờ bản đồ 12 (thửa 81 và thửa 81/1 trước đây) có nguồn gốc do ông bà để lại, bà V sử dụng từ năm 1975 đến nay là không đúng với thực tế hiện trạng người sử dụng đất là bà Đoàn Thị T đã được bị đơn Lê Thị Thúy V, ông N (con bà V) và những người sống lâu năm tại địa phương xác nhận.

Từ những phân tích trên cho thấy, UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho bà V trái với nội dung Điều 32 Luật Đất đai 2003 “Việc giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi có quyết định thu hồi đất đó” trái với nội dung khoản 3 Điều 49; khoản 3 Điều 50 Luật Đất đai 2003 “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp... nay được UBND xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định.. thì được cấp GCNQSDĐ” thuộc trường hợp được thu hồi theo điểm c Điều 64 Luật Đất đai 2013. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp đất đai và huỷ quyết định cá biệt có căn cứ để chấp nhận.

Đối với tài sản trên đất tranh chấp, mặc dù bà V không tranh chấp và cho rằng cây trên đất tranh chấp do mọc tự nhiên, nhưng tại phiên toà bà V đã thừa nhận khi Nhà nước kiểm kê đền bù làm đường 40B đã giải toả 08 cây sưa, một số cây chuối và hàng rào dâm bụt của bà T, người làm chứng đều xác nhận cây đang tồn tại trên đất tranh chấp do ông V1, bà T trồng nên thuộc quyền sử dụng của bà T.

[2.4] Về chi phí tố tụng:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận, nên bà Lê Thị Thúy V phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản quy định tại Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự là 14.500.000 đồng, nhưng nguyên đơn tự nguyện chịu ½ chi phí này nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận.

[2.5] Về án phí:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định bị đơn Lê Thị Thúy V phải chịu tiền án phí sơ thẩm không có giá ngạch đối với tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật, nhưng nguyên đơn tự nguyện chịu thay cho bị đơn, nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4, Điều 32, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 32, khoản 3 Điều 49, khoản 3 Điều 50 Luật Đất đai 2003; Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013. Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

Tuyên xử:.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Công nhận bà Đoàn Thị T có quyền sử dụng 187,5m² (trong đó có 144 m² nằm trong hành lang bảo vệ an toàn công trình đường QL40B) đất tranh chấp với bà Lê Thị Thúy V tại thửa 639 tờ bản đồ 12 địa chỉ Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam (có trích đo địa chính thửa đất kèm theo).

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị T về việc huỷ quyết định cá biệt:

Tuyên huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 548521 Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho hộ bà Lê Thị Thúy V vào ngày 06/6/2012 tại thửa đất số 693, sở bản đồ số 12 với diện tích 187,5m² địa chỉ thửa đất Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam thu hồi và lập thủ tục chỉnh lý biến động 187,5m² trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 548521 Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho hộ bà Lê Thị Thúy V vào ngày 06/6/2012 tại thửa đất số 693, sở bản đồ số 12 và hồ sơ quản lý đất đai theo đúng quy định của pháp luật. Bà Đoàn Thị T được thực hiện quyền kê khai, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Về chi phí tố tụng:

Bà Lê Thị Thúy V phải trả cho bà Đoàn Thị T chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 7.250.000 (Bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đoàn Thị T tự nguyện chịu án phí không có giá ngạch 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền bà Đoàn Thị T nộp tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0008837 ngày 07/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.

  1. Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/8/2024); đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Phước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 31/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt

  • Số bản án: 58/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyết tranh chấp đất đai với Vân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger