TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 58/2024/DS-ST Ngày: 27-8-2024 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình
Ông Mai Văn Du
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 161/2024/TLST-DS về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-DS ngày 02/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 132/2024/QĐST – DS ngày 15/8/2024 giữa:
- • Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Địa chỉ: 2 N,tp. Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: 240 Nguyễn Hữu T, tp .. Đại diện theo ủy quyền: ông Trương Đình V. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- • Bị đơn: Ông Lê Duy Q, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Tổ I, phường H, quận C, tp.. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng), quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 10/8/2023, ông Lê Duy Q có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng - các tài liệu chung được gọi là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Q, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền: 188.900.000 đồng. Lãi suất áp dụng: 2,48%/ tháng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 142.003.000 đồng (thứ tự thanh toán được thực hiện theo Điều 21 bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng) Sau đó, Ông Q không thực hiện thanh toán các khoản nợ từ thẻ tín dụng đối với Ngân hàng và Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông Q và chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nhưng ông Q không thực hiện. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Lê Duy Q trả ngay cho ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 66.008.483 đồng, gồm: Dư nợ gốc: 57.205.475 đồng, L quá hạn: 8.803.008 đồng. Ông Lê Duy Q có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tiến hành triệu tập theo quy định, bị đơn ông Lê Duy Q đều vắng mặt không có lý do chính đáng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện thì Ngân hàng yêu cầu bị đơn ông Lê Duy Q trả số tiền nợ vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 BLTTDS và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng, quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Về thẩm quyền: tại thời điểm ký kết hợp đồng, bị đơn ông Lê Duy Q cung cấp địa chỉ tại Tổ I, phường H, quận C, tp. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, tranh chấp phát sinh giữa Ngân hàng và ông Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, tp.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ theo quy định và tại phiên tòa ngày hôm nay, ông Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Q vẫn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng cũng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Lê Duy Q và Ngân hàng.
Về nội dung:
- Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với tiền nợ gốc và nợ lãi:
- Giữa ông Lê Duy Q và Ngân hàng có ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với mục đích phục vụ cho tiêu dùng. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, có hình thức và nội dung phù hợp với Điều 13 đến Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch, qua đó để xác định ông Lê Duy Q có quan hệ tín dụng với Ngân hàng.
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Lê Duy Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Q thanh toán toàn bộ số tiền nợ là phù hợp với thỏa thuận của hai bên và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
- Tại bản trình bày ngày 27/8/2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định tạm tính đến ngày 27/8/2024, ông Q còn nợ Ngân hàng số tiền: 66.008.483 đồng, trong đó Dư nợ gốc: 57.205.475 đồng, lãi quá hạn: 8.803.008 đồng.
HĐXX xét thấy: ông Lê Duy Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc việc thanh toán và trong quá trình giải quyết, ông Q không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng chứng tỏ ông Q không có thiện chí trả nợ và vi phạm các quy định theo cam kết tại Hợp đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông Lê Duy Q có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/8/2024 là 66.008.483 đồng, trong đó Dư nợ gốc: 57.205.475 đồng, lãi quá hạn: 8.803.008 đồng và lãi tiếp tục tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông Lê Duy Q trả dứt điểm số tiền trên theo lãi suất đã ký kết là có cơ sở và phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, cũng như phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 4 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 13 và 15 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN nên HĐXX chấp nhận.
Từ những phân tích đã nêu trên, HĐXX có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Q có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 66.008.483 đồng, trong đó Dư nợ gốc: 57.205.475 đồng, lãi quá hạn: 8.803.008 đồng
- Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 và 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Khoản 4 Điều 13, Điều 15, 16 và 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng;
- - Điều 4 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc ông Lê Duy Q phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 27/8/2024 là 66.008.483 đồng, trong đó Dư nợ gốc: 57.205.475 đồng, lãi quá hạn: 8.803.008 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh còn lại của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Duy Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.300.424 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 1.500.379 đồng theo biên lai thu số 0001705 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, tp ..
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hưng |
Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 58/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S và ông Lê Duy Q
