TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 58/2024/DS-ST
Ngày: 26/9/2024
V/v tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Nga
- Bà Mai Thị Tuyết Dung
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thụy Bích Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Long – Kiểm sát viên.
Vào ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 97/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1972.
Địa chỉ: 2 đường T, Tổ E, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1985.
- Bà Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 2004.
- Ông Nguyễn Gia T, sinh năm 2005.
- Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 2006.
- Nguyễn Trà M, sinh năm 2009.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Tất cả vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ngày 22/4/2022 tôi được Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DĐ326522; số vào sổ cấp GCN: CS07051 đối với thửa đất số 535, tờ bản đồ 143, diện tích 399,80m² tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi đã xây tường rào xung quanh đất của tôi, ngày 06/5/2022 ông Nguyễn Thanh Đ thửa đất liền kề đã đập phá tường rào với lý do ông cho rằng tôi xây tường rào trên đất của ông, chính vì vậy tôi đã liên hệ Công ty Đ1 để đo đạc cấm ranh và nộp đơn khởi kiện tại Ủy ban nhân dân xã B.
Ngày 21/12/2022 Ủy ban nhân dân xã B mời lên hòa giải nhưng ông Đ không đi và Ủy ban nhân dân xã B lập biên bản hòa giải không thành, cho nên tôi làm đơn kiện gửi Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ giải quyết buộc ông Đ trả lại cho tôi phần đất mà ông lấn chiếm khoản 9m².
Bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc N, bà Nguyễn Ngọc N1, ông Nguyễn Gia T, Nguyễn Ngọc L1, Nguyễn Trà M đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh nhiều lần triệu tập và tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, tất cả đương sự vắng mặt không lý do.
- Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ:
- + Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: Hiện trạng khu đất tranh chấp không có người sinh sống; trên đất là đất trống.
- + Kết quả đo vẽ: Theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H được thực hiện theo sự hướng dẫn của ông Nguyễn Văn L (nguyên đơn) thể hiện: Diện tích đất tranh chấp là 8,6m², diện tích đất này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L nhưng đang do ông Đ sử dụng.
Trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày: Sau khi có kết quả đo vẽ của Trung tâm đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, và xác định được diện tích mà ông Đ lấn chiếm là 8,6m², nên ông L yêu cầu Tòa án buộc ông Đ phải có trách nhiệm trả lại diện tích 8,6m² đất mà ông Đ đã lấn chiếm.
Về chi phí tố tụng: Ông L không yêu cầu giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 170, 203 Luật Đất đai 2013.
Về quan hệ tranh chấp: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn phần đất đã lấn chiếm có diện tích 8,6m² theo bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên môi trường Thành phố H.
Về chi phí tố tụng và án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông L nên đây là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Phần đất tranh chấp tọa lạc tại xã B, huyện C, cho nên theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Văn L yêu cầu ông Nguyễn Thanh Đ trả lại đất đang lấn chiếm, cho nên L là nguyên đơn; ông Đ là bị đơn; bà Nguyễn Thị Ngọc N, bà Nguyễn Ngọc N1, ông Nguyễn Gia T, Nguyễn Ngọc L1, Nguyễn Trà M là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ông Đ, bà N, bà N1, ông T, L1, M đã được Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ nhiều lần triệu tập và tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng có liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, tất cả vắng mặt không lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn không tham gia phiên tòa sơ thẩm; bị đơn không có yêu cầu phản tố, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập; ông L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung: Qua xem xét yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Diện tích đất 399,80m², thửa đất số 535, tờ bản đồ số 143, tọa lạc tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DĐ326522; số vào sổ cấp GCN: CS07051 ngày 22/4/2022 cho ông Nguyễn Văn L. Sau khi đo vẽ để kiểm tra ranh giới khu đất thì ông L mới phát hiện một phần đất của ông đang do ông Đ sử dụng lấn qua. Ông L đã thông báo để ông Đ biết và có biện pháp xử lý nhưng ông Đ không thừa nhận việc lấn chiếm, cho nên ông L gửi đơn yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết. Việc giải quyết tại địa phương không có kết quả nên ông L gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ trả lại phần diện tích 8,6m² đất đã bị lấn chiếm.
Tòa án đã thu thập tài liệu, chứng cứ; tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ tại phần đất đang tranh chấp theo yêu cầu của ông L.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo vẽ của Trung tâm đo đạc bản đồ của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H ngày 14/3/2024 thể hiện:
- - Hiện trạng khu đất tranh chấp không có người sinh sống; trên đất là đất trống.
- - Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 14/3/2024 thể hiện phần diện tích đất tranh chấp là 8,6m². Diện tích tranh chấp này nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L nhưng ông Đ đang sử dụng.
Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, việc ông L yêu cầu ông Đ phải có trách nhiệm trả lại diện tích 8,6m² đất mà ông Đ đã lấn chiếm theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh ngày 14/3/2024 của Trung tâm Đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5]. Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp thuận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Áp dụng Điều 166, Điều 168, Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Áp dụng Điều 170, Điều 203 Luật đất đai 2013.
- - Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất":
Buộc ông Nguyễn Thanh Đ phải có trách nhiệm trả lại diện tích 8,6m² đất thuộc thửa đất số 535, tờ bản đồ số 143, tọa lạc tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh được Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: DĐ326522, số vào sổ cấp GCN: CS07051 cho ông Nguyễn Văn L (Theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 14/3/2024 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).
2. Về án phí:
Ông Nguyễn Thanh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0046205 ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trọng Phúc |
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án số 58/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 58/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Văn Lộc - Nguyễn Thanh Điền
